Phương thuốc chữa bệnh

8 bài thuốc quý từ hải sâm

Hải sâm được biết đến là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đồng thời cũng được dùng nhiều trong các bài thuốc chữa bệnh. Hải sâm là một loại động vật sống ở biển, vùng biển nước ta cũng có rất nhiều hải sâm. Nó là động vật thuộc loại không có xương sống.

Theo Y học cổ truyền thì hải sâm có vị mặn, tính ấm, có công dụng bổ thận ích tinh, dưỡng huyết nhuận táo, thích hợp đối với các trường hợp tính huyết hư tổn, đồng thời giúp nâng cao đời sống sức khỏe tình dục. Nó có tác dụng chữa di tinh, liệt dương. Hải sâm cũng được dùng nhiều trong các bài thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần về đêm, táo bón, thiếu máu. Hiện nay hải sâm thường được dùng trong các bài thuốc giúp nâng cao sức đề kháng và nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, bổ sung các chất tạo máu, cải thiện khả năng hấp thụ oxy và chống mệt mỏi cơ tim.

Cách chế biến hải sâm: hải sâm có thể dùng tươi hoặc sấy khô bảo quản để dùng dần. Khi mua hải sâm về trước hết cần rửa sạch đất bùn phía ngoài, sau đó dùng một ngón tay hoặc một chiếc đũa ấn vào miệng hải sâm rồi đẩy nhẹ để lột toàn bộ bên trong ruột ra ngoài. Vứt bỏ hết bộ phận bên trong , rửa sạch bằng gừng hoặc rượu.

MỘT SỐ BÀI THUỐC THƯỜNG DÙNG HẢI SÂM

Bài thuốc hỗ trợ điều trị thiếu máu.

Bài thuốc này là sự kết hợp giữa hải sâm và đại táo, có tác dụng cho các bệnh nhân bị thiếu máu, rất tốt cho chị em sau sinh. Dùng một lượng bằng nhau hải sâm và đại táo đã bỏ hạt, đem sấy khô rồi tán thành bột, uống ngày 2 lần mỗi lần 9g với nước ấm.

Bài thuốc hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, suy nhược sút cân.

Thật đơn giản, người bệnh chỉ cần thay đổi món ăn sáng của mình bằng cháo hải sâm, nên ăn liên tục trong 1 tuần để có kết quả tốt. Dùng 20g hải sâm, 100g gạo nấu thành cháo, nêm nếm gia vị vừa ăn.

Táo bón do âm hư.

Hải sâm 30g, ruột già lợn 120g làm sạch, mộc nhĩ đen 15g, ba thứ đem hầm nhừ, chế thêm gia vị, ăn liên tục trong nhiều ngày.

Đau lưng do thận hư.

Hải sâm có tác dụng bổ thận ích tinh do đó nó được dùng nhiều trong các bài thuốc giúp cho thận mạnh khỏe hơn. Trong trường hợp chữa đau lưng do thận hư, bạn có thể dùng 30g hải sâm, 60 xương sống lợn, 15g hạt hạnh đào. Ba thứ trên rửa sạch, hầm nhừ và ăn trong nhiều ngày.

Bổ thận, bồi bổ cơ thể sau suy nhược.

Bài thuốc dùng hải sâm hầm với thịt dê được  biết đến như một món ăn ngon miệng vừa giúp bổ thận, bồi bổ cơ thể. Dùng trong các trường hợp thận hư, liệt dương, di tinh, tiểu dắt, người cao tuổi suy nhược, chân tay lạnh.

Cách chế biến: Dùng 30g hải sâm, 120g thịt dê, cả hia thái lát, thêm gia vị nấu thành súp.

Hỗ trợ điều trị di tinh.

Hải sâm 50g, cật dê 1 đôi, kỷ tử 10g, đương quy 12g. Cho các vị trên vào nồi nấu chung cùng với 1 lít nước hầm đến khi nhừ. Ăn ngày 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Bổ khí huyết, hạ huyết áp.

Nguyên liệu bao gồm: 50g hải sâm, 30g tỏi, 100g gạo, gia vị vừa đủ.

Cách chế biến: Tất cả các nguyên liệu trên nấu nhừ thành cháo.

Bệnh nhân nên ăn vào buổi sáng và ăn liên tục trong 7 ngày.

Hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh.

Cháo hải sâm gạo tẻ được biết đến là món cháo bồi bổ được dùng nhiều trong các trường hợp suy nhược thần kinh. Món ăn này có thể ăn thường xuyên. Dùng 30g hải sâm, 100g gạo tẻ. Hải sâm ngâm rửa sạch, thái lát, cho vào nồi nấu với gạo tẻ thành cháo. Nêm nếm gia vị vừa ăn là được.

8 món cháo - một "món quà" quý giá dành cho người đái tháo đường

Kết quả hình ảnh cho các loại cháo

Bệnh đái tháo đường là bệnh khá phổ biến hiện nay. Để điều trị tốt bệnh đái tháo đường bên cạnh việc dùng thuốc thì bệnh nhân cần phải có một chế độ ăn uống hợp lý. Từ xưa đến nay, chữa bệnh đài tháo đường bằng đường ăn uống được coi là cách chữa bệnh cơ bản, người bệnh cần ăn kiêng theo chỉ định của bác sỹ nhằm kiểm soát lượng đường trong máu ở mức ổn định.

Sau đây bài viết xin chia sẻ với bạn độc một số món cháo giúp cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể vừa có tác dụng chữa bệnh đái tháo đường.

1. Cháo bột sắn

Loại cháo này sẽ có tác dụng tốt đối với những người tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đái tháo đường tuýt II, tiêu chảy mạn tính và khát miệng khô họng. Dùng 50g gạo tẻ, đãi sạch nấu thành cháo đặc, sau đó cho thêm 30g bột săn vào quấy đều. Thêm gia vị vừa ăn.

2. Cháo địa cốt bì

Nguyên liệu chế biến bao gồm: 30g địa cốt bì, 15g mỗi loại tang bạch bì và mạch đông, 100g bột miến dong.

Cách chế biến: đem địa cốt bì, tang bạch bì, mạch đông đem sắc lấy nước, sau đó dùng nước này nấu với bột miến dong thành cháo là dùng được.

3. Cháo rau cần tây

Cần tây tươi 60g, gạo tẻ 50 – 100g. Cần tây tươi rửa sạch thái nhỏ đem nấu với gạo tẻ thành cháo, thêm gia vị, ăn nóng, sáng và chiều. Chỉ định cho các trường hợp tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường.

4. Cháo khoai lang

Khoai lang là một trong những loại thực phẩm đứng top đầu trong các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng. Món cháo khoai lang được biết đến là món ăn dành cho những người bị đái tháo đường có tỳ vị hư nhược. Cách chế biến vô cùng đơn giản dùng 60g khoai lang và 30g gạo kê nấu thành cháo. Món này nên dùng để ăn sáng. Món ăn này cũng là một trong những món ăn chữa bệnh táo bón rất tốt, đcặ biệt có thể làm món ăn dặm cho trẻ em.

5. Súp bào ngư củ cải cà rốt

Không chỉ là món ăn ngon miêng, bồi bổ cơ thể mà món ăn súp bào ngư củ cải cà rốt còn được dùng trong các trường hợp sốt nóng, ho khan, suy nhược cơ thể, bệnh đái tháo đường.

Cách chế biến: dùng 20g bào ngư khô hoặc 60g bào ngư tươi, 100g củ cải, 100g cà rốt, có thể thêm tôm nõn hoặc thịt nạc cho ngon miệng nấu thành súp. Nêm gia vị cho vừa ăn. Món này có thể ăn hàng ngày hoặc cách 2-3 ngày lần.

6. Nước bột đậu xanh

Đậu xanh 200g, cho thêm nước, nấu chín nhừ, lọc qua vải xô lấy nước, uống sáng tối, mỗi lần 1 chén. Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.

7. Cháo thục đại nhục quế

Nguyên liệu bao gồm: 3g nhục quế, 10g thục địa hoàng, 100g gạo tẻ, 30g rau hẹ.

Cách chế biến: dùng nhục quế, thục địa hoàng, gạo tẻ nấu thành cháo loãng. Khi cháo chín cho thêm rau hẹ và gia vị vừa ăn.

Món cháo này có tác dụng cho bệnh nhân đái tháo đường, di niệu, u xơ tiền liệt tuyến.

8. Cháo ý dĩ

Ý dĩ nấu cháo, cho ăn thường ngày. Dùng cho các bệnh nhân đái tháo đường khát nhiều, uống nhiều.

Bên cạnh việc điều chỉnh chế độ ăn cho hợp lý thì các bệnh nhân đái tháo đường cũng cần có chế độ luyện tập thể dục hợp lý. Bệnh nhân nên thường xuyên vận động, uống nhiều nước, hạn chế ăn chất béo và chất ngọt.

Linh chi vị thuốc quý trường sinh

Linh chi là một loại thảo dược có tên khác nhau tuỳ nơi sinh trưởng. ở Trung Quốc gọi bằng nhiều tên đẹp như : Trường sinh thảo, Thần tiên thảo..., nhưng hiện nay người ta thường gọi là nấm Linh chi.

 

Tuỳ miền núi non sinh trưởng mà có màu sắc, hình dạng khác nhau như Thanh chi sinh ở núi Thái Sơn, Bạch chi sinh ở Hoa Sơn, Hoàng chi sing ở Tung Sơn, Tử chi sinh ở Cao Hạ Sơn... gọi chung là “Chư chi”. Linh chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum.

Từ ngàn năm trở lại đây, Linh chi được coi là một loại dược phẩm quý hiếm nhất và cũng là loại thực phẩm bổ dưỡng mang nhiều mầu sắc thần thoại nhất... Người xưa cho nó là loại thực phẩm Thần tiên, con người phải có lòng thành tín, được thần tiên vui lòng ban cho thì mới có thể tìm gặp được (Theo Bản thảo cương mục). Các nước như Triều Tiên, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Thái Lan, Việt Nam... người ta đã thật sự sử dụng rộng rãi nó hơn vài thập kỷ nay.

Linh chi cổ  có hai dạng: Loại mọc hoang ngoài thiên nhiên, và một dạng nhân tạo. Theo kinh nghiệm cổ truyền thì tuỳ phong thổ mỗi vùng mà có giá trị khác nhau. Linh chi Hàn quốc hiện nay được coi là có giá trị lớn hơn. Bên cạnh những dược tính giống nhau, các loại Linh chi tuỳ theo màu sắc, mùi vị mà có tính chất thiên thắng, mạnh yếu khác nhau; sự thiên thắng này cũng thuộc phạm vi tương quan giữa mầu sắc với ngũ hành và tạng phủ trong cơ thể. Tỷ như Hắc chi vị mặn thiên về ích thận khí, lợi thuỷ đạo, trị lung phế (bí tiểu). Thanh chi chua thiên bổ can khí, sáng mắt, Tử chi là loại thông dụng hiện nay, vị ngọt thiên ích tinh, cường cân cốt, lợi quan tiết (khớp), bảo thần, hảo nhan sắc, trị hư lao, trị điếc, trị trĩ.... Các loại khác cũng có đủ những đặc tính đó, nên không nhất thiết phải tìm cho đủ các loại nấm để điều trị cho từng bệnh nhân. Tuy nhiên nếu có điều kiện dùng được loại có giá trị thích nghi vẫn tốt hơn, vì nồng độ hoạt chất của nó phong phú hơn.

Tác dụng dược lý của Linh chi:

Theo những tài liệu cổ như Bản thảo cương mục (của Lý Thời Trần), Thần nông bản thảo, Trung dược học... Linh chi đã được xếp vào loại Thượng đẳng dược. Các loại Linh chi đều có tính chất bổ ích khí huyết, bồi dưỡng ngũ tạng suy nhược hư lao, ích trí, dưỡng tâm, an thần, bình suyễn, tăng trí tuệ, dùng trị các bệnh thuộc ngũ tạng, lục phủ, cơ nhục, xương khớp..., dùng lâu sẽ được “diên niên ích thọ”, thân thể nhẹ nhàng, tinh thần hoà lạc, sảng khoái.
Linh chi bình hoà vô độc, nên dùng một thời gian dài liên tục mới thấy hiệu quả rõ rệt. Theo những nghiên cứu gần đây trên thế giới, Linh chi có những đặc tính chung sau đây :

  • Cải thiện sự hấp thu chuyển hoá trong dinh dưỡng. Điều hoà chức năng tạng phủ.
  • Tăng cường sự thích nghi của cơ thể đối với những biến động trong môi trường sống.
  • Tăng sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật. Kể cả các bệnh nan y như ung thư...
  • Giải độc toàn thân, giúp cơ thể thải nhanh các chất độc, kể cả các kim loại nặng, chất độc hoá học, độc của các loại khuẩn... Bảo vệ cơ thể, chống ảnh hưởng các tia chiếu xạ.
  • Cân bằng nội tiết tố trong cơ thể, chống viêm, chống dị ứng...
  • Nâng cao tuổi thọ, bổ não, chống lão hoá của tế bào nhất là tế bào não, nên được dùng điều trị chứng kém trí nhớ, hội chứng lú lẫn của tuổi già.
  • Linh chi không có độc tính, không gây tác dụng phụ, dù cho dùng thời gian dài, lại không tương kỵ với các dược liệu Đông, Tây y khác.
    ứng dụng lâm sàng:
  • Điều trị các bệnh viêm gan: Viêm gan, gan nhiễm mỡ, ngăn chặn và điều trị xơ gan.
  • Điều trị các bệnh về hô hấp: Điều trị và ngăn chặn các cơn hen suyễn do di truyền hoặc do môi trường. Trị viêm phế quản mạn tính. Bồi bổ cho bệnh nhân laophổi, u xơ phổi.
  • Các bệnh về tuần hoàn: Bổ tim, thông mạch. Điều trị xơ cứng mạch máu. Cao huyết áp (cần dùng thời gian dài mới hữu hiệu). Động mạch nhiễm mỡ. Trị chứng Cholesterol máu cao (làm tan mỡ bám trong thành mạch).
  • Các bệnh về tiêu hoá : Điều trị rối loạn tiêu hoá, loét dạ dầy, tá tràng, viêm đại tràng, kích thích tiêu hoá, kích thích ăn uống ngon miệng. Ngăn ngừa sự hình thành và phát triển khối u.
  • Các bệnh về hệ thống bài tiết: Điều trị tiểu đường, sỏi thận , bí tiểu tiện, táo bón...
  • Các bệnh về hệ thống thần kinh: Điều trị suy nhược thần kinh, mất ngủ kéo dài, ngủ không ngon giấc, mộng mị hoang tưởng, suy nhược sinh lý, di, mộng tinh.
  • Các di chứng tai biến mạch máu não. Nhược cơ, trị các bệnh về khớp, thần kinh... Chống đau nhức gân xương.
  • Các bệnh ung thư, u bướu: Trị bệnh xơ cứng bì, bệnh Luput ban đỏ, ban trọc bướu cổ. Lượng Polysacharit (chất đa đường) trong Linh chi có chức năng chống ung thư, điều chỉnh miễn dịch, chống lão hoá... Ngoài ra còn nhờ các chất Triterpen, Germanium... nên có thể điều trị bệnh ung thư ở mọi thời kỳ, vì nó có chức năng ức chế, phá hoại, ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, thúc đẩy sự suy vong của chúng. Có thể dùng một cách đơn độc, hoặc dùng hỗ trợ với xạ trị, hoá trị hoặc phẫu thuật, tăng hiệu lực chữa lành cho những phương pháp này và giảm thiểu các tác dụng phụ của nó, như mệt mỏi tiều tuỵ, gầy mòn, chán ăn, đau nhức mất ngủ... phòng ngừa sự tái phát di căn sau phẫu thuật (Theo nghiên cứu chế độ ăn uống thảo mộc trị bệnh của Ming De Men, Y học Nhiệt đới / Hoa Kỳ ung thư tự nhiên liệu pháp của Hoàng Diễn Cường và cộng sự / Trung Quốc).
  • Linh chi có nhiều chất Germanium hữu cơ hơn các loài thảo mộc khác (cao gấp 5 đến 8 lần Nhân sâm). Chất này giúp khí huyết lưu thông, các tế bào hấp thu oxi tốt hơn. Chất Germanium còn là một loại bán dẫn, nó có thể điều chỉnh hiệu điện thế điển hình cao hơn hiệu điện thế bình thường, vì thế nó có thể làm sạch hiệu thế ung thư trong cơ thể (theo Ming De Men TM/Hoa Kỳ).

Tại Hoa Kỳ nhiều Viện bào chế đã chiết xuất Linh chi lấy tinh chất làm thành một dược liệu dưới dạng cao khô, có tên là China Ganoderma lucidum Extract, để đặc trị ung thư rất có hiệu quả, nhưng giá thành lại quá cao so với các nước đang phát triển. Theo kinh nghiệm lâm sàng thì dùng cách uống trực tiếp nước sắc hoặc bột Linh chi vẫn có hiệu quả.

Đối với một số bệnh nhân nhiễm HIV: Bệnh viện The Quanyn Clinic ở San Francisco đã điều trị một số bệnh nhân nhiễm HIV đã có những kết quả tích cực bước đầu (1978). Được cơ quan quản lý Thực Dược phẩm (FDA) Hoa Kỳ cho phép sử dụng trong khi chờ các loại thuốc khác công hiệu hơn ra đời (Theo tài liệu của Thạc sĩ Cỗ Đức Trọng sưu tập).

Cách dùng:

Mỗi ngày từ 10 đến 15g, cách dùng đơn giản là bẻ nhỏ nấu nước uống thay trà cho đến khi nước sắc còn màu lợt, vị nhạt. Hoặc bỏ vào bình thuỷ tinh chế nước sôi vào uống trong ngày.

Trên thị trường hiện nay có nhiều dạng: Linh chi nguyên nấm, hoặc phiến, (xắt lát) hay tán bột, Trung Quốc làm thành viên nang đông khô (Capsule), Hàn Quốc kết hợp với Nhân sâm dưới dạng viên nang. Hoa Kỳ bào chế thành cao khô đóng gói. Việt Nam phối hợp với Nhân sâm làm trà Linh chi Nhân sâm... Có thể dùng Linh chi nấu hầm với thịt cá, hoặc với các loại nấm hay thảo mộc khác (ở người kiêng ăn thịt cá), để bồi dưỡng cơ thể suy nhược, nhất là bệnh nhân ung thư.

Các lưu ý cần thiết:

Theo kinh điển : Chư chi thuộc nhóm bổ khí, tính bình, riêng Tử chi ôn, coi như một dương dược, nhưng Ohsawa (Nhật), căn cứ trên màu sắc và môi trường sinh trưởng, cho Linh chi là loại thịnh âm, và theo kinh nghiệm lâm sàng, thì nên cẩn thận với những người hư hàn, dùng có thể bị phân nhão. hoặc tiêu chảy, tuy không ảnh hưởng gì đến hiệu lực điều trị, có thể khắc phục bằng cách giảm liều lượng, hoặc gia năm ba lát gừng nướng, hoặc thêm Nhân sâm sao gừng để trung hoà âm tính, dương hóa Linh chi.

Chúng tôi đã có năm mươi năm thừa kế, nhận thấy trên thực tế lâm sàng đôi khi khác với kinh điển, nên chúng ta cũng cần quan tâm đến việc sử dụng thuốc men và ăn uống với con người ngày nay, để hợp với sự thiên thắng âm dương trong mỗi cơ thể.

Để có thể dùng thuốc một cách hợp lý, người bệnh nên trực tiếp liên hệ với thầy thuốc để họ tuỳ giai đoạn bệnh biến mà nắm được sự thiên lệch của âm dương, hàn nhiệt, hư vong trong thể trạng mỗi người mà hướng dẫn chính xác và theo dõi sít sao, hầu có thể nâng cao hiệu quả điều trị.

Lương y. Đặng Xuân Quang

Những món ăn giúp chúng ta cải thiện trí nhớ

Trí nhớ của chúng ta phụ thuộc vào các tế bào não. Đôi khi các tế bào não bị tổn thương hoặc bị lão hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng ghi nhớ của con người. Đặc biệt khi về già các tế bào não có xu hướng bị lão hóa, do đó những người cao tuổi thường có trí nhớ giảm sút. Não cần phải được cung cấp đủ chất, có một số món ăn giúp cải thiện trí nhớ, tốt cho trí não. Với các nguyên liệu dễ mua, dễ chế biến các bà nội trợ nên cho các món ăn này vào thực đơn gia đình mình nhé.

Tôm đất hầm hạt sen

Nguyên liệu để chế biến bao gồm: 120g tôm đất bóc vỏ, làm sạch, 150g hạt sen khô, 1 bìa đậu phụ.

Cách chế biến: Tôm đất ướp gia vị mắm muối, tiêu, hành, đường, nước mắm vừa đủ khoảng 20 phút. Hạt sen rửa sạch, đậu phụ cắt miếng vừa ăn. Phi thơm hành tỏi cho tôm và xòa sơ qua, cho 1 ít nước lọc vào bỏ thêm hạt sen, đậu phụ vào hầm chín. Cho thêm chút hành, ngò vào cho thơm

Công dụng: theo Y học cổ truyền thì hạt sen có tác dụng ích thận, cổ tinh, dưỡng tâm an thần rất tốt. Do đó món ăn này được kết hợp các nguyên liệu tôm, hạt sen và đậu phụ sẽ giúp dưỡng tâm an thần, cải thiện trí nhớ và có tác dụng bồi bổ cơ thể.

Cật heo xào câu kỷ tử với cần tây

Với các nguyên liệu cực kỳ dễ mua như cật heo, câu kỷ tử và cần tây bạn có thể chế biến cho gia đình một món ăn vừa ngon miệng vừa giúp cải thiện trí nhớ cho thành viên trong gia đình.

Cách chế biến: dùng 100g cật heo, làm sạch cách thành miếng sau đó ướp gia vị mắm, muối, tiêu, hành băm nhuyễn trong khoảng 20 phút. Dùng dầu ăn xào qua cật heo, thêm 15g câu kỷ tử cùng chút nước tiếp tục xào cho tới khi cật heo gần chín thì cho cần tây vào. Đảo nhanh tay đến khi cật heo chín là được.

Ức gà hầm câu kỷ tử và nhân sâm

Theo Đông y thì câu kỷ tử có tác dụng bổ can thận, nhân sâm có tác dụng bồi bổ cơ thể chống lão hóa. Vì vậy món ăn này vừa kết hợp câu kỷ tử và nhân sâm có tác dụng tốt trong những trường hợp giảm trí nhớ, trường hợp cơ thể suy yếu cần bồi bổ.

Cách chế biến: 150 ức gà thái mỏng. Ướp ức gà bằng hỗn hợp gia vị(bột nêm, nước tương, hành băm nhuyễn, đường) trong thời gian 20 phút. Bắc nồi lên bếp, thêm vào 2 muỗng canh dầu ăn, phi hành lên cho thơm. Xào sơ ức gà. Cho 15g câu kỷ tử, 12g nhân sâm vào. Chế thêm chút nước. Hầm với lửa nhỏ. Khi gà chín, thêm chút hành, ngò vào.

Trứng hấp với rau chân vịt

Đây là món ăn vô cùng đơn giản và dễ làm, được kết hợp giữa các nguyên liệu thường có sẵn trong gai đình chúng ta đó là trứng và rau chân vịt. Theo Y học cổ truyền thì rau chân vịt là loại rau rất tốt cho sức khỏe bởi nó chưa nhiều vitamin và khoáng chất đặc biệt có hàm lượng vitamin E và selen tương đối cao có tác dụng chống lại sự oxy hóa của tế bào thần kinh. Theo nghiên cứu trứng lại giàu chất lecithin khi bị phân giải trong cơ thể sẽ tạo thành chất acetylcholine hết sức quan trọng cho trí nhớ. Vì vậy món ăn trứng hấp với rau chân vịt được biết đến với công dụng hết sức có lợi cho trí nhớ.

Cách chế biến: Dùng khoảng 100g rau chân vịt, rửa sạch thái nhỏ sau đó cho vào 3 quả trứng đánh tan, hấp chín là dùng được.

Trứng chim bồ câu chưng với long nhãn, câu kỷ tử.

5 trứng chim bồ câu, luộc chín, bóc vỏ cho vào tô cùng với 15g câu kỷ tử, 15g long nhãn. Thêm tí nước, và chưng cách thủy. Theo YHCT, long nhãn bổ tâm tỳ, kiện não ích trí. Trứng chim bồ câu có tác dụng dưỡng tâm.

Cá hồi sốt nấm

Cá hồi là loại có có hàm lượng omega-3 tương đối cao có tác dụng chống oxy hóa tế bào thần kinh, giúp ích cho trí nhớ.

Nguyên liệu bao gồm: 150g cá hồi, 80g nấm rơm, gia vị vừa đủ, bột năng.

Cách chế biến: Cá hồi thái lát rửa sạch ướp gia vị bột nêm, hành, tiêu, đường trong vòng 10 phút sau đó nướng chín cho ra đĩa. Nấm rơm ngâm với nước muối loãng, sau đó vớt ra rửa sạch xào với một ít hành tỏi băm. Dùng bột năng  chế thêm ít nước quấy đều sau đó chế nước bột năng vào chảo nấm. Khi nấm chín thêm một ít bột nêm, dùng nước này rưới đều lên cá hồi đã được nướng chín trước đó. Thêm hành, ngò, tiêu vào dùng khi đang nóng.

Giập tắt chảy máu cam ngay lập tức

Chảy máu mũi còn gọi là chảy máu cam. Bệnh xuất hiện quanh năm, không phân biệt nam, nữ, trẻ già nhưng trẻ nhỏ mắc nhiều hơn.

Nguyên nhân gây bệnh có nhiều như cảm nhiễm nóng, lạnh đột ngột, trúng độc hóa chất, bệnh thuộc bệnh về máu, tăng huyết áp, chứng thiếu vitamin hoặc bệnh truyền nhiễm cấp tính. Y học cổ truyền gọi bệnh này là huyết hư và chia làm 2 nhóm: chứng thực và chứng hư.


Chứng thực là bệnh phát sinh do phổi nhiệt, gan nóng hỏa bốc, dạ dày thực nhiệt mà gây nên. Hư chứng thuộc về âm hư, huyết hư, kèm theo các tạng gan, thận, phổi đều hư dẫn tới bệnh phát sinh. Xin giới thiệu một số món ăn, nước uống tốt cho người bệnh chảy máu mũi.

Nước rễ cỏ tranh:
rễ cỏ tranh 50g, đường phèn 20g. Rễ cỏ tranh nhặt kỹ rửa sạch, giã nhỏ cho vào nồi thêm nước vừa đủ, đun sôi kỹ chắt lấy nước, cho đường phèn vào quấy tan đều chia 2 lần uống trong ngày. Cần uống liền 3-5 ngày.

Nước lá hẹ: lá hẹ tươi 60g. Lá hẹ rửa sạch giã nhỏ, dùng nước sôi để nguội lọc lấy 200ml nước đặc, chia 2 lần uống trong ngày, cần uống liền 3 ngày. Nếu uống vào mùa đông, cần uống ấm.

Nước vỏ quả dừa:
vỏ quả dừa 60g. Chọn loại dừa cho nước giải khát, vỏ còn xanh, cắt thành miếng cho vào nồi thêm nước, đun sôi kỹ, chắt lấy nước đặc chia 2 lần uống trong ngày. Cần uống liền 3-5 ngày.

Nước nhân lạc: nhân lạc tươi 60g. Chọn loại lạc còn non, bỏ vỏ lấy nhân còn cả vỏ the cho vào nồi cùng với nước, đun sôi kỹ, chắt lấy nước, chia làm 2 lần trong ngày, cho bệnh nhân ăn lạc, uống nước. Cần ăn, uống liền 3 ngày.

Nước củ cải trắng: củ cải trắng 50g. Củ cải rửa sạch, giã nhỏ, dùng nước sôi để nguội lọc lấy nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Trước khi uống nhỏ 3 giọt nước củ cải vào mũi bên chảy máu. Cần làm liền 3 ngày.

Nước ngó sen: ngó sen 10g rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước. Ngày nhỏ 3 lần, mỗi lần 2 - 3 giọt vào lỗ mũi bị chảy máu. Cần nhỏ liền 3 ngày.

Canh mướp:
mướp tươi 200g, rau ngót 50g, bạc hà tươi 4 - 5 lá, bột ngọt, gia vị vừa đủ. Mướp bỏ vỏ thái miếng; rau ngót, bạc hà rửa sạch; thịt lợn băm nhỏ, ướp bột gia vị xào chín, cho nước vừa đủ đun sôi, cho mướp, rau ngót, bạc hà vào đảo đều, canh sôi lại cho bột ngọt vào. Ăn ngày 1 lần, có thể ăn với cơm. Cần ăn liền 5 ngày.

Canh rau má: rau má 100g, cỏ nhọ nồi 50g, tôm nõn 20g, bột ngọt, gia vị vừa đủ. Tôm nõn giã nhỏ, cho vào nồi thêm nước vừa đủ, cho bột gia vị vào đun sôi. Rau má, cỏ nhọ nồi rửa sạch, thái nhỏ cho vào nước tôm, canh sôi lại cho bột ngọt quấy đều là được. Bệnh nhân ăn ngày 1 lần, có thể ăn với cơm. Cần ăn liền 3 ngày.

Chè đậu đen: đậu đen 100g, đường phèn 30g. Đậu đen xay thành bột, cho vào nồi thêm nước đun sôi trên lửa nhỏ, đậu đen chín cho đường phèn vào quấy đều, chè sôi lại là được. Bệnh nhân ăn ngày 1 lần. Cần ăn liền 5 ngày.

Chú ý: Khi mắc bệnh nên ăn uống những chất thanh đạm, các chất mát, nhiều rau xanh, quả tươi, thức ăn giàu vitamin C như cà chua, quýt; mùa đông cần đầy đủ thức ăn bổ dưỡng để giúp cho sức khỏe ổn định. Không ăn các chất cay nóng như ớt, hành tây, gừng, tỏi, rượu, cà phê, thuốc lá, các món ăn khô như thịt nướng, rán, quay, hun khói.

Một số cách sơ cứu khi bị chảy máu cam

Ðắp tỏi: tỏi tươi 3-5 tép, vải màn 2 miếng (10x10cm). Tỏi bỏ vỏ the giã nhỏ. Nếu cả hai lỗ mũi đều chảy máu thì chia tỏi làm 2 phần gói vào vải màn, buộc vào hai gan bàn chân (chỗ lõm nhất khi để ngửa bàn chân lên). Trường hợp máu cam chỉ chảy ở một lỗ mũi thì buộc tỏi vào gan bàn chân phía bên lỗ mũi không chảy máu (chảy máu ở lỗ mũi phải thì chỉ buộc tỏi ở gan bàn chân bên trái và ngược lại). Ngày thay tỏi 1 lần, cần buộc 2 ngày.

Chườm nước lạnh: trường hợp chảy máu cam nhẹ, cho người bệnh nằm ngửa, dùng khăn mặt nhúng nước lạnh đắp lên trán, dùng ngón tay chắn nhẹ phía lỗ mũi bị chảy máu.

Buộc ngón giữa:khi có bệnh nhân chảy máu cam, để cấp cứu nhanh, ta dùng một sợi chun (dây cao su cũng được) quấn nhẹ vào ngón tay giữa phần sát bàn tay, nếu chảy máu ở lỗ mũi phải thì quấn ở ngón giữa bàn tay trái và ngược lại. Khi máu không chảy nữa thì cởi bỏ.

Xoa bóp: Kết hợp ăn uống với xoa bóp các huyệt hậu khê, thiếu xung, nghinh hương, tam âm giao mỗi huyệt khoảng 1 phút. Ngày xoa bóp 2-3 lần.

Những bài thuốc nam chữa sỏi thận hiệu quả nhất

Sỏi thận là căn bệnh khá phổ biến từ trước đến nay. Việc điều trị sỏi hiện nay có thể dùng được cả phương pháp Đông y lẫn Tây y. Trước đây khi y học còn chưa phát triển, Tây y được chưa được ứng dụng nhiều thì cha ông ta vẫn thường hay dùng những cây cỏ thường ngày để chữa được rất nhiều bệnh trong đó có bài thuốc nam chữa sỏi thận. Sau đây bài viết xin chia sẻ với bạn đọc một số cách chữa sỏi thận dân gian rất hiệu quả đã được ông cha ta lưu truyền bao đời nay

1. Chữa sỏi thận bằng ngò gai (mùi tàu)

Ngò gai ở một số nơi gọi là cây mùi tàu là một loại cây gia vị được sử dụng nhiều trong các món ăn. Tuy nhiên ngoài việc là cây gia vị ra thì ngò gai được Y học cổ truyền dùng làm vị thuốc, đặc biệt nó là vị thuốc rất có tác dụng trong việc đẩy lùi sỏi thận.

Cách thực hiện: dùng 1 nắm ngò gai đem hơ qua lửa cho héo lại sau đó sắc cùng với 3 chén nước, sắc cho đến khi còn 2/3 nước nữa thì được. Người bệnh nên uống 3 lần trong ngày, chia làm 3 bữa sáng, trưa trước khi ăn và tối trước khi đi ngủ. Theo kinh nghiệm của dân gian thì đối với nam giới nên uống liên tục trong vòng 7 ngày còn với nữ giời nên uống liên tục trong 9 ngày sẽ phát huy hiệu quả, các hạt sỏi sẽ bị nhỏ lại và bị tống ra. Sau một liệu trình điều trị 7-9 ngày người bệnh nên đi khám để xem xét mức độ bệnh của mình để có hướng điều trị tiếp theo cho phù hợp.

2. Chữa sỏi thận bằng trái khóm

Với bài thuốc này bạn cần chuẩn bị 1 trái khóm và một ít phèn chua. Bài thuốc này được dân gian áp dụng rất hiệu quả đặc biệt rất có tác dụng trong việc giảm những cơn đau dữ dội do bệnh sỏi thận gây ra. Khóm mua về rửa sạch sau đó khoét 1 lỗ trên trái khóm rồi nhét ít phèn chua vào trong ruột khóm, đem nướng chín sau đó vắt lấy nước uống. Bệnh nhân nên sử dụng trong vòng vài ngày để phát huy tác dụng.

3. Chữa bệnh sỏi thận bằng chuối hột

Dùng hột của trái chuối hột đã chín, đem phơi khô sau đó rang cho cháy tán thành bột. Mỗi ngày dùng 1 muỗng cà phê bột hột chuối hột hào với nước, uống ngày 2-3 lần, liên tục trong vòng 10-20 ngày sẽ làm tiêu những viên sỏi. Hoặc bạn cũng thể dùng hột của quả chuối chín, rang vàng ( khoảng 1 nắm hột) cùng với 3 chén nước sắc lấy 2 chén nước, uống hằng ngày sẽ hết.

Kết quả hình ảnh cho chuối hột
Chuối hột được sử dụng như một bài thuốc chữa sỏi thận

Ngoài ra với trái chuối hột thì trong dân gian còn lưu truyền bài thuốc chữa sỏi thận bằng trái chuối non như sau: dùng trái chuối hột hột non sau đó đâm ra vắt lấy nước chừng khoảng 1 chén con, cho thêm 1 ít muối uống liên tục thì những viên sạn sẽ tiêu và theo đường tiểu tiện đi ra ngoài hết.

4. Đu đủ chữa sỏi thận

Quả đu đủ được trồng rất phổ biến ở nước ta. Bài thuốc chữa sỏi thận bằng đu đủ là bài thuốc đơn giản, nguyên liệu dễ tìm tuy nhiên hiệu quả nó mang lại không hề thua kém các bài thuốc khác đã được dân gian sử dụng. Bạn nên sử dụng những quả đu đủ loại bánh tẻ, còn xanh bởi vì những quả này thường chữa nhiều nhựa, là thành phần chính của bài thuốc này. Nên chọn loại đu đủ to tầm 400-600g là vừa.

Cách làm: Rửa sạch đu đủ, cắt đầu cắt đuôi moi hết hột, ruột bỏ đi. Để nguyên cả vỏ xanh và nhựa đặt vào cái nồi con hay cặp lồng, đổ nước đun cách thủy 30 phút cho đu đủ chín, cho thêm ít muối vào đu đủ cho dễ ăn. Sử dụng sau bữa ăn để không bị ảnh hưởng đến dạ dày, mỗi ngày ăn 1 quả. Nếu sỏi thận nhỏ dưới 10mm thì ăn 7 quả liên tục 7 ngày, nếu trên 10mm phải ăn nhiều hơn và ăn liên tục, nếu cảm thấy khó ăn thì bạn có thể chấm với đường cho dễ ăn.

Ngoài việc sử dụng quả đu đủ để làm thuốc chữa sỏi thận thì bạn cũng có thể dùng hoa đu đủ đực giã lấy nước hòa với nước đun sôi để nguội uống ngày 3 lần cũng phát huy tác dụng.

5. Bài thuốc chữa sỏi thận bằng lá trầu bà.

Dùng tầm khoảng 5 đến 10 lá trầu bà, cho vào nồi cùng với 3 chén nước sắc kỹ. Khi trong nồi còn lại tầm 1 chén nước thì được, uống liên tục tầm 10 ngày, các hạt sỏi sẽ tiêu hết. Bạn có thể uống nước này thường xuyên để cho sỏi tiêu hết và tránh tái phát lại.

6. Trị đau nhức do sỏi thận bằng trứng vịt

Với triệu chứng đau nhức 2 bên thận, đi đứng khó thì trong Đông y có bài thuốc vô dùng hiệu quả từ trứng vịt. Dùng 2 lòng trắng trứng vịt hòa với chút rượu trắng, uống chừng vài ba lần sẽ hết.

Ngoài ra đối với các bệnh nhân có triệu chứng đau thận làm ngất xỉu thì có thể dùng bài thuốc sau: pha 1 muống canh bột ngọt với 1 chút muối, một chút đường và nước lạnh, cho người bệnh uống sẽ tỉnh lại. Người bệnh chỉ nên uống một lần.

7. Trị sỏi thận bằng rau ngổ

Cây rau ngổ có vị thơm, cay nhưng hơi chát, tính thanh mát, trong Đông y coi nó là một vị thuốc thanh nhiệt, giải khát, tiêu độc, trừ viêm, giảm đâu…và chữa được sỏi thận.

Kết quả hình ảnh cho rau ngổ
Uống nước rau ngỏ trị sỏi thận

Cách dùng: Lấy rau ngổ giã nhỏ, pha với một ít muối uống ngày 2 lần liên tục trong vòng 7 ngày vào buổi sáng và chiều hoặc cũng có thể xay sinh tố lấy từ 50 – 100g hòa với 2 chén nước để sôi 20 phút sau uống, uống từ 15- 30 ngày.

8. Trị sỏi thận bằng rau om

Rau om, độ một nắm, đâm nhuyễn, đỗ nước, vắt lấy nước cốt chừng hai phần chén. Chặt ngang rồi khoét lỗ cây chuối hột, đỗ nước cốt rau om vô lỗ cây chuối hột, lấy chén đậy lại 1 đêm. Sáng ra lấy nước để vô chai, ngày uống 03 lần. Nếu đau nặng, chặt uống chừng 5 cây, làm như vậy sẽ kết quả. Bài thuốc này áp dụng để trị sạn thận, đau nhức, tiểu khó khăn.

9. Trị sỏi thận bằng hoa dâm bụt

Hoa dâm bụt rất quen thuộc với mọi người, nhưng ít ai có thể biết đến công dụng chữa trị sỏi thận của nó. Trên thực tế đã có nhiều người dùng hoa dâm bụt để chữa các loại sỏi thận san hô, rất cứng và có chân bám chắc. Sau khi sử dụng bài thuốc hoa dâm bụt thì sỏi nhỏ dần, tan ra và theo đường tiết niệu ra ngoài.

Kết quả hình ảnh cho hoa dâm bụt
Một trong các công dụng của dâm bụt là trị sỏi thận

Nguyên liệu: Hoa dâm bụt: 9 cái,phèn chua: 1 cục bằng đầu ngón tay

Cách dùng: Hoa dâm bụt rửa sạch, bỏ cuống hoa cho vào bát ăn cơm đổ đầy nước và cho đường phèn vào. Sau đó đem chưng cách thủy, nước sôi được 1 phút thì bắc ra ăn cả nước lẫn hoa, mỗi ngày 1 lần
Hoặc đơn giản hơn chúng ta có thể dầm nát hoa dâm bụt, cho thêm ít muối , thêm nước lạnh, vắt lấy nước ngày uống 2 lần, uống liên tục trong vòng 15 ngày sẽ tiêu ra hết.

10. Bài thuốc bổ thận

Ngoài các bài thuốc chữa sỏi thận thì Y học cổ truyền còn có các bài thuốc giúp bổ thận, thông tiểu hạ nhiệt. Để bổ thận bạn có thể áp dụng bài thuốc: dùng 1kg hạt mận khô ngâm cùng với 1 lít rượu trắng chừng 7 ngày là dùng được. Nên uống mỗi lần 1 chén trước bữa ăn cơm. Để thông tiểu hạ nhiệt thì sử dụng bài thuốc từ cây sâm đất hay còn gọi là cây nổ (cây có hoa màu tím, quả chín màu đen bỏ xuống nước nổ lụp bụp). Dùng rễ cây sâm đất cùng với lá cây sâm dứa thơm nấu nước uống như uống trà. Dùng hàng ngày có tác dụng thanh nhiệt, hạ hỏa, uống lâu ngày cho da dẻ mịn màng, có tác dụng trị sỏi thận và ngăn ngừa nguy cơ bị sỏi thận.

Các bài thuốc nam chữa sỏi thận bằng phương pháp dân gian thường được sử dụng để trị sỏi thận khi đang còn bé, mới bắt đầu. Chính vì vậy khi áp dụng phương pháp này người bệnh nên tham khám thường xuyên để theo dõi sỏi đã tan hết chưa. Nếu sỏi lâu ngày khó tan thì cần phải có hướng điều trị khác phù hợp hơn

Giảm béo bằng thảo dược

Béo phì đơn thuần là do  tổ chức lớp mỡ trong cơ thể quá nhiều, hoặc tỷ lệ mỡ quá cao so với tổ chức phần mềm khác. Có thể coi béo phì là một loại bệnh do quá thừa dinh dưỡng, cũng có thể  do  rối loạn chuyển hoá năng lượng.

Tuy nhiên nguyên nhân và cơ chế phát bệnh vẫn chưa hoàn toàn được làm rõ. Nhưng nếu ăn uống quá nhiều làm cho năng lượng vượt quá nhu cầu của cơ thể, chất dinh dưỡng quá dư thừa hình thành lớp mỡ tích tụ lại khiến cho lớp mỡ của cơ thể tăng nhiều, tổ chức lớp mỡ tăng sinh, đó chính là khởi nguồn trực tiếp của bệnh béo phì.

Chẩn đoán bệnh béo phì độ nặng nghiêm trọng không khó, nhưng ranh giới giữa bệnh béo phì độ nhẹ và dinh dưỡng thường thì còn chưa rõ. Cho nên từ góc độ phát triển và dự phòng, việc nhận biết về bệnh béo phì độ nhẹ là trọng yếu. Nói chung bệnh béo phì độ nhẹ và độ trung không có triệu chứng lâm sàng điển hình, nhưng tỷ lệ tử vong tương đối cao đồng thời tiềm phục bệnh tiểu đường, xơ vữa động mạch, bệnh tim, cao huyết áp, hô hấp, viêm khớp xương, thống phong, sỏi mật... và sức đề kháng giảm dễ bị nhiễm bệnh, không thể chịu đựng được thuốc mê khi phẫu thuật... và các biến chứng khác. Chưa có thống kê chính xác về số người mắc bệnh béo phì, nhưng hiện nay khi mức sinh hoạt tăng cao thì số người mắc bệnh béo phì trở nên phổ biến ở trong và ngoài nước, là một trong những căn bệnh uy hiếp nghiêm trọng sức khoẻ của nhân dân.Trong một đời người, có vài thời kỳ biểu hiện béo phì rất đột xuất, đó là:

Thời kỳ độ tuổi nhi đồng (trẻ dưới 1 năm tuổi đến lứa tuổi nhi đồng)

Thời kỳ thanh xuân, phát dục.

Thời kỳ thành niên sau 40 tuổi, phụ nữ trong thời kỳ thai nghén, cho con bú và thời kỳ mãn kinh.

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh béo phì bằng phương pháp tính toán Tiêu chuẩn thể trọng:

1. Tính toán:

Thể trọng tiêu chuẩn (Kg)= Thân cao(cm) -105

hoặc Thể trọng tiêu chuẩn (Kg) =[ Thân cao(cm) -100]  0,9 Nam giới

hoặc Thể trọng tiêu chuẩn (Kg) =[ Thân cao(cm) -100]  0,85 Nữ giới

Nếu thể trọng thực tế của bạn 10% là thể trọng lý tưởng

Nếu thể trọng thực tế của bạn >10% thể trọng tiêu chuẩn là siêu trọng, vượt quá 20% thể trọng tiêu chuẩn trở lên quá béo phì. Nếu thể trọng của bạn <15%thể trọng tiêu chuẩn là thuộc loại gầy.

2. Chỉ số thể trọng:

Béo phì còn có thể căn cứ vào chỉ số thể trọng (BMI) để phán đoán:

BMI =     Thể trọng/[Thân cao]2

Nếu BMI > 25Kg/ m2 (Nam) là béo phì, > 24Kg/ m2 (Nữ) là béo phì, < 21Kg/m2 là gầy

BMI trong khoảng 25-30 là béo phì độ nhẹ

BMI trong khoảng 30-35 béo phì độ trung

BMI lớn hơn 35 là béo phì độ nặng.

Nhưng vẫn có những người mắc bệnh béo phì mặc dầu thể trọng chưa đạt tới tiêu chuẩn của bệnh béo phì, thậm chí ở phạm vi bình thường, nhưng tỷ lệ thành phần mỡ trong cơ thể ngược lại đã vượt quá con số  phần trăm bình thường, những người này vẫn phải chẩn đoán là mắc bệnh béo phì. Chữa trị bệnh có liên quan tới bệnh béo phì tương đối khó khăn. Cho nên dự phòng càng trọng yếu và hữu hiệu, nhưng phải bắt đầu từ lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên. Quản lý nghiêm ngặt về ăn uống và tăng cường rèn luyện thể dục là biện pháp thực hiện hữu hiệu, nhưng phải kiên trì lâu dài.

Sau đây xin giới thiệu cùng quý bạn đọc vài bài trong số đó;

Trà tiêu mỡ

Sinh sơn dược           30g

Sinh địa hoàng             9g

Thảo quyết minh      30g

Trạch tả                   15g

Trà diệp                   50g

Các vị tán bột trộn đều, mỗi gói 6g, pha hãm 2 đến 3 lần bằng nước sôi già, uống hàng ngày.

Trà Câu kỷ tử

Câu kỷ tử 30g, dùng 30ml nước sôi già hãm trong khoảng 10 đến 15 phút là uống dần được. Pha hãm 2 đến 3 lần nước sôi già, uống dần trong ngày (sáng sớm, trưa, tối) để tận dụng.

Sau một tháng uống trà Câu kỷ tử, thể trọng giảm được khoảng 3kg. Uống liên tục sau 4 tháng, thể trọng giảm được 10kg, huyết áp trở lại bình thường, chứng mệt mỏi, khó thở, nhức đầu chóng mặt, lo âu, bụng trướng, lưng đau, chân phù nhẹ đều hết. Nửa năm sau không uống trà Câu kỷ tử, thể trọng vẫn giữ được ở mức 60kg (trước đó là 70kg).

Nghiên cứu  dược lý hiện đại cho biết: Câu kỷ tử có chứa hàm lượng lớn các chất Caroten, Vitamin B2, Vitamin B6, Vitamin C, có thể tham gia vào chuyển hoá mỡ, làm cho cơ thể giải phóng năng lượng, giảm mỡ.

(Theo “Trung dược tân dụng”)

Trà tiêu phù khu thấp nhuận tràng thông phủ, thể trọng giảm nhẹ. Dùng “Tiêu bang linh dược”.

Thảo quyết minh (hạt)      30g

Trạch tả                          15g

Uất lý nhân                     15g

Hoả ma nhân                  10g

Sơn tra                            10g

Mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 đến 2 gói (mỗi gói 20g bột), pha hãm với 300ml nước sôi già, uống trước bữa ăn cơm nửa giờ.

Trà giảm béo phì:

Đào nhân           10g

Trư linh               10g

Chỉ xác               10g

Hoàng kỳ           10g

Pha hãm với nước sôi già trong khoảng 10 đến 15 phút là uống dần được. Pha vài lần nước sôi già, để tận dụng vị thuốc.

Thang thuốc sắc uống chữa đơn thuần béo phì:

Nhân sâm         40g

Đan sâm                   20g

Kim anh tử          30g

Đại hoàng           10g

Hoàng tinh         30g

Tam thất bột       5g

Hà thủ Ô            20g

Trạch tả             15g

Cát căn           20g

Sinh sơn tra              15g

Sắc uống, ngày 1 thang, chia 2 lần trong ngày.

Tác dụng: có thể đạt được thanh (trong) giáng trọc (đục) sơ thông dẫn trệ, khinh thân kiện thể, kéo dài tuổi thọ.

(Theo Vương- Bảo- Long. Khinh thân ẩm giáng chỉ giảm phì tác dụng lâm sàng quan sát. Thực dụng Trung y nội khoa Tạp chí).

Các bài thuốc trị ho có hiệu quả cao đối với tất cả mọi người

Thời tiết giao mùa là thời điểm mà chúng ta dễ bị ho nhất. Những cơn ho kéo dài, khiến cho chúng ta vô cùng khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hằng ngày. Hiện nay có nhiều phương pháp chữ ho hiệu quả cả Tây y lẫn Đông y. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc Tây để chữa trị cũng gặp nhiều khó khăn và đôi khi còn có các tác dụng phụ đi kèm, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Ở bài viết này, xin chia dẻ với bạn đọc một số bài thuốc trị ho dân gian rất hiệu quả và dễ làm, mời bạn đọc cùng tham khảo.

1. Chanh đào ngâm mật ong.

Theo kinh nghiệm từ xa xưa, thì chanh đào mật ong có tác dụng rất hữu hiệu trong việc chữa ho. Tuy nhiên bài thuốc trị ho này không nên áp dụng cho trẻ dưới 3 tuổi bởi mật ong có thể ảnh hưởng tới hệ hô hấp và tiêu hóa của trẻ. Mỗi ngày bạn có thể dùng 2-3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê.

Cách ngâm chanh đào mật ong được các bà nội trợ thường áp dụng như sau: Tỷ lệ chanh đào, mật ong và đường phèn là 1:1:0,5; cứ 1kg chanh thì dùng 1 lít mật ong và 0,5 kg đường phèn. Chú ý chúng ta nên dùng mật ong rừng không nên dùng mật ong được nuôi công nghiệp.

Kết quả hình ảnh cho quất hấp cách thủy
Trị ho cực tốt bằng việc sử dụng chanh đào ngâm mật ong

Cách làm: Chanh đào mua về thì ngâm với nước muối khoảng 30 phút, sau đó bỏ cuống cắt thành lát mỏng. Dùng 1 lọ thủy tinh để ngâm, cứ 1 lớp chanh đào thì rắc 1 lớp đường phèn, cuối cùng thì đổ mật ong lên hỗn hợp chanh đường phèn. Dùng vỉ nén chặt lên trên bề mặt để tránh không cho chanh nổi lên, đậy nắp thủy tinh lại. Bảo quản nơi thoáng mát tránh ánh nắng trực tiếp chiếu vào.
Chanh đào mật ong rất dễ bảo quản và bảo quản được lâu, do đó đến mùa chanh đào các mẹ nên làm sẵn dự trữ 1 bình cho gia đình mình khi cần để sử dụng.

2. Chữa ho bằng lá xương sông.

Bài thuốc này cũng được dân gian sử dụng nhiều. Tuy nhiên nó có vị đắng hơi khó uống, vì vậy không nên cho trẻ nhỏ sử dụng bởi thường trẻ sẽ sợ và uống vào hay bị nôn trớ. Xương sông trong Đông y gọi là hoạt lộc thảo nó vừa là cây gia vị trong các món ăn vừa dùng làm bài thuốc chữa ho rất hiệu quả.

Cách làm: ngắt những búp non của xương sông hấp cách thủy hoặc có thể kết hợp xương sông với lá hẹ rửa sạch, thái nhỏ trộn với đường hấp cách thủy. Uống ngày 3 lần, mỗi ngày uống khoảng 1 chén 100ml.

3. Mật ong hấp gừng.

Bài thuốc này là sự kết hợp giữa gừng, mật ong có thể kết hợp thêm vỏ quýt, vỏ chanh hoặc cam.
Cách thứ nhất: bạn có thể dùng 5 đến 10g mỗi loại vỏ quýt, vỏ gừng, vỏ chanh hoặc cam cùng với 3g quả ô mai và 30g mật ong, hấp cách thủy sau đó lấy nước uống trong ngày.
Cách thứ 2: cách này đơn giản và vẫn được dân gian thường xuyên sử dụng và cho kết quả hữu hiệu. Đó là dùng củ gừng nhỏ, nướng cho cháy sém, để nguội lột vỏ, giã nhỏ cho ra nước sau đó trộn với 1 ít mật ong. Dùng nước mật ong khi còn nóng còn gừng thì ngậm như ngậm mứt. Với trẻ em không ngậm được gừng thì nên giã nhỏ gừng rồi chế thêm 1 ít nước sôi vào để cho gừng tan ra, sau đó bỏ bã hòa với 1 chút mật ong rồi cho trẻ uống.

4. Chữa ho với quả quất.

Đây là bài thuốc chữa ho khá phổ biến được nhiều người biết đến. Chỉ đơn giản bằng cách cắt đôi quả quất chín, rồi rắc một ít đường phèn lên hấp cách thủy, sau đó uống nước và ăn nguyên quả. Hoặc bạn có thể thay thế đường phèn bằng mật ong cũng phát huy hiệu quả không kém. Mỗi ngày nên kiên trì uống từ 2-3 lần, mỗi lần 1-2 thìa cà phê.

5. Mật ong hấp tỏi.

Cách làm: Chuẩn bị 4 đến 5 nhánh tỏi, đập dập, trộn đều mật ong, đem hấp cách thủy tới khi ngửi thấy mùi tỏi hăng hắc là được. Để nguội, uống từ 2 đến 3 lần/ngày, mỗi lần 1 – 2 thìa cà phê. Mật ong khi hấp cùng với tỏi làm tăng tính kháng sinh tự nhiên, giảm viêm họng, tăng sức đề kháng.

Có thể làm tương tự cách trên với các nguyên liệu khác như: cánh hoa hồng, rễ chanh, lá húng chanh, quả phật thủ, hoa khế, hoa đu đủ đực, lá tía tô, hành hoa… Tùy theo những nguyên liệu có sẵn trong mỗi gia đình mà sử dụng để chế biến.
Trường hợp không có các nguyên liệu phối hợp, có thể dùng mật ong nguyên chất. Khi dùng cho trẻ dưới 1 tuổi, nên hấp mật ong trước khi dùng.

6. Bài thuốc trị ho bằng rau diếp cá.

Rau diếp cá là loại rau được sử dụng nhiều trong các món ăn. Ngoài ra theo Đông y thì rau diếp cá có tính mát vị cay, tanh có tác dụng làm thuốc chữa bệnh như chữa chốc đầu, ghẻ lở, đau răng và đặc biệt có tác dụng rất tốt trong vấn đề trị gió, ho khan có đờm.

Hình ảnh có liên quan
Rau diếp cá trị ho rất tốt

Cách chữa ho bằng rau diếp cá được dân gian lưu truyền như sau: Rau diếp cá rửa sạch, cho vào cối giã thật nhuyễn, sau đó, đun sôi và giảm nhỏ lửa. Tiếp tục đun trong khoảng 20 – 30 phút, thỉnh thoảng đảo cho rau nhừ đều. Bắc ra, để nguội, lọc lấy nước cho bé uống. Có thể cho thêm chút đường vào để bé dễ uống. Mỗi ngày uống từ 2 – 3 lần, uống sau bữa ăn khoảng một giờ đồng hồ.

Trên đây là các bài thuốc trị ho được sử dụng rộng rãi trong dân gian. Các bạn cũng có thể tham khảo bài viết trị ho theo nguyên nhân. Chúng tôi hy vọng rằng với bài viết này, bạn hay người thân sẽ không bao giờ phải chịu đựng những cơn ho dai dẳng, kéo dài nữa

Tác dụng tuyệt vời của phấn hoa mật ong với sức khoẻ

Theo tiến sĩ Nga H. Hakim, phấn hoa chứa một thành phần các axit amin tương tự như bêta - endorphin là một nội kích tố thần kinh do tuyến yên của não bài tiết mà chất này gồm có 31 axit amin.

Có thể do đó mà phấn hoa cung cấp các axit amin cần thiết cho sự tổng hợp bêta - endorphin của não và hocmôn này có tác dụng an thần và vai trò điều hoà hoạt động thần kinh.


Thật kỳ diệu đối với người mắc bệnh Parkinson (chứng liệt rung): ở một bệnh nhân, một đợt điều trị 15 ngày với liều 24 gam phấn hoa (bằng 3 thìa cà phê) chia 2 lần uống vào sáng sớm và buổi tối, chứng rung tay và lắc đầu sẽ giảm đi trông thấy. Sau một tháng uống phấn hoa, chứng đầu ngón tay bị giật không còn nữa. Thời gian điều trị có thể kéo dài 6 tháng, tốt hơn nữa là hàng tuần có kết hợp với việc dùng sữa ong chúa một lần với liều 10mg (nhỏ hơn hạt bắp).
Phấn hoa cũng có tác dụng dự phòng và điều trị chứng tăng sinh tuyến tiền liệt và khối u tuyến tiền liệt. Nam giới 40-45 tuổi trở lên, mỗi ngày nên uống 15g phấn hoa để phòng bệnh.

Phấn hoa còn có khả năng điều trị bệnh tiểu đường:
một nữ bệnh nhân mỗi ngày bài tiết 60g đường và mỗi lít nước tiểu chứa 48g đường, được cho uống mỗi ngày 32g phấn hoa (bằng 4 thìa cà phê) mà không dùng insulin. Sau 15 ngày điều trị bệnh nhân chỉ bài tiết 9,4g đường mỗi ngày, đường trong nước tiểu chỉ còn 6,2g/lít. Bệnh nhân tiếp tục sử dụng phấn hoa và sau một thời gian hàm lượng đường trong nước tiểu chỉ còn 1g/lít và sức khoẻ được hồi phục.

Phấn hoa cũng được các thầy thuốc dùng để điều trị liệt dương
với liều uống hàng ngày 32g (bằng 4 thìa cà phê), chia 2 lần vào sáng sớm và buổi tối. Hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn nếu kết hợp với sữa ong chúa, mỗi lần 5mg (bằng hạt ngô).
nọc ong

Nhiều thầy thuốc Liên Xô (cũ) đã sử dụng nọc ong có hiệu quả trong điều trị bệnh nhân bị viêm khớp bằng cách cho ong đốt trực tiếp. ở nước ta, nhà nuôi ong Tôn Thất Đảng ở Đà Nẵng đã chữa khỏi bệnh nhân Basedow (ưu năng tuyến giáp) bằng cách cho ong đốt ngay vào bướu: trong 5 ngày đầu, cho ong đốt tăng dần từ 1-5 con, từ đó mỗi tuần cho ong đốt 2 lần, mỗi lần 5 con bướu teo dần cho đến bình thường. Ông cũng cho biết đã chữa cho một nữ bệnh nhân trẻ mắc bệnh tâm thần theo cách chữa trên và sau một thời gian thì khỏi bệnh mà không thấy bệnh tái phát.

Nói tóm lại, các sản phẩm từ tổ ong là những sản phẩm có tính chất bảo vệ tế bào chống các gốc tự do gây oxy hoá, chống các quá trình lão hoá khi sử dụng lâu dài nhất là sữa ong chúa và keo ong, đã góp phần khôi phục lại bộ máy di truyền của tế bào, làm giảm số lượng sai hình nhiễm sắc thể và góp phần sửa chữa các sai hình đó của tế bào bao gồm các tế b ào của hệ miễn dịch, vì vậy mà có tác dụng chữa được nhiều bệnh.

Liên hệ mua hàng

Điện thoại: 0394969435

Fax: 0394969435

Thống kê truy cập

226429
Hôm nayHôm nay59
Hôm quaHôm qua79
TuầnTuần193
ThángTháng1064
TổngTổng226429
DEBUG
Time:[0.02793288230896sec]

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries