Thực vật làm thuốc

Atisô

1. Tên gọi:

- Tên Việt Nam / Vietnamese name:  Atisô

- Tên khác / Other name:  

- Tên khoa học / Scientific name:  Cynara scolymus

- Đồng danh / Synonym name:  Cynara

2. Họ thực vật / Plant family:  Họ Cúc (Asteraceae)

Atisô
Hoa Atiso
 

3. Mô tả / Description:

Atisô là cây thảo lớn, cao 1 - 1,2m, có thể đến 2m. Thân ngắn, thẳng và cứng, có khía dọc, phủ lông trắng như bông. Lá to, dài, mọc so le; phiến lá xẻ thùy sâu và có răng không đều, mặt trên xanh lục mặt dưới có lông trắng, cuống lá to và ngắn. Cụm hoa hình đầu, to, mọc ở ngọn, màu đỏ tím hoặc tím lơ nhạt, lá bắc ngoài của cụm hoa rộng, dày và nhọn, đế cụm hoa nạc phủ đầy lông tơ, mang toàn hoa hình ống. Quả nhẵn bóng, màu nâu sẫm có mào lông trắng

4. Phân bố / Coverage:

Atisô là cây thuốc nguồn gốc Ðịa Trung Hải, được người Pháp di thực vào trồng ở Việt Nam từ hàng trăm năm nay ở các vùng có khí hậu ôn đới như Ðà Lạt (Lâm Ðồng), Sapa (Lào Cai), Tam Ðảo (Vĩnh Phúc). Ðến nay atisô được phát triển trồng ở nhiều nơi, kể cả vùng đồng bằng như Hải Dương cây vẫn phát triển tốt.

5. Tọa độ địa lý / Geographical coordinates:

21.021892, 105.843486

6. Diện tích vùng phân bố / Coverage acreage :

50km2

7. Bộ phận dùng / Compositions used:

Cụm hoa và lá bắc có phần gốc nạc, thường được dùng làm rau ăn và làm thuốc. Lá hái lúc cây sắp ra hoa hoặc mới ra hoa, dùng làm thuốc.

8. Công dụng / Uses:

Hoa và cụm lá bắc atisô dùng làm rau ăn. Nấu canh hoặc hầm với xương lợn hay nấu với gan lợn, ăn rất bổ. Với bệnh nhân đái tháo đường có tác dụng hạ lượng đường trong máu (do có chất Inulin), ngoài ra còn có tác dụng nhuận gan, nhuận tràng, lợi tiểu, giải độc. Lá atisô (và các chế phẩm chiết suất toàn phần như cao lỏng, cao đặc, cao khô atisô) có tác dụng lợi tiểu, tăng tiết mật, thông mật, hạ cholesterol máu. Bảo vệ gan chống độc (do sự có mặt của 6 chất trong nhóm polyphenol và 10 chất nhóm acid alcol cùng các flavonoid).

9. Thành phần hóa học / Chemical composition:

Trước đây người ta cho rằng hoạt chất là Cynarrin. Những nghiên cứu gần đây chứng minh rằng có nhiều hoạt chất khác nhau chứ không riêng gì Cynarrin (Ernst E. Naturamed 1995).Trong Atisô chứa 1 chất đắng có phản ứng Acid gọi là Cynarin (Acid 1 - 4 Dicafein Quinic). Còn có Inulin, Tanin, các muối kim loại K (tỉ lệ rất cao), Ca, Mg, Natri.Lá Atisô chứa:1. Acid hữu cơ bao gồm:
  • Acid Phenol: Cynarin (acid 1 - 3 Dicafeyl Quinic) và các sản phẩm của sự thủy phân (Acid Cafeic, acid Clorogenic, acid Neoclorogenic).
  • Acid Alcol.
  • Acid Succinic.
2. Hợp chất Flavonoid (dẫn chất của Luteolin), bao gồm:Cynarozid (Luteolin - 7 - D Glucpyranozid), Scolymozid(Luteolin - 7 - Rutinozid - 3’ - Glucozid).3. Thành phần khác: Cynaopicrin là chất có vị đắng, thuộc nhóm Guaianolid.Dược điển Rumani VIII quy định dược liệu phải chứa trên 1% Polyphenol toàn phần và 0,2% hợp chất Flavonoid.Theo R.Paris, hoạt chất (Polyphenol) tập trung ở lá, có nhiều nhất ở phiến lá (7,2%) rồi đến ho (3,48%), đến cụm hoa, rễ, cuống lá.Lá chứa nhiều hoạt chất nhất: 1,23% Polyphenol, Clorogenic acid 4%, hợp chất Flavonoid (đặc biệt là Rutin), sau đó đến thân (0,75%), rễ (0,54%). Dẫn chất Caffeic như Clonogenic acid, Neoclorogenic acid, Cyptoclorogenic acid, Cynarin. Sesquiterpen lacton: Cynarpicrin, Dehydrocynaropicrin, Grossheimin, Cynatriol.



Hoạt chất trong phiến lá cao gấp 10 lần trong cuống lá.Lá non chứa nhiều hoạt chất (0,84%) hơn lá mọc thành hình hoa thị ở mặt đất (0,38). Nếu sấy ở nhiệt độ cao thì lá mau khô nhưng lại mau mất hoạt chất. Ở nhiệt độ thấp, việc làm khô sẽ lâu hơn. Lá cần được ổn định trước rồi mới chuyển thành dạng bào chế. Ngọn có hoa chứa inulin, protein (3,6%), dầu béo (0,1%), Cacbohydrat (16%), chất vô cơ(1,8%0, Ca (0,12%), P (0,10%), Fe (2,3 mg/100g), Caroten (60 đơn vị/100 g, tính ra Vitamin A).Thân và lá còn chứa muối hữu cơ của các kim loại K, Ca, Mg, Na. Hàm lượng Kali rất cao.Hoa ác ti sô ăn rất tốt cho sức khỏe, nó cung cấp khoảng 9,3% carbohydrate, 1,5% chất xơ, rất ít chất béo và protein. Năng lượng cung cấp rất thấp, chỉ khoảng 40 đến 50 kcal nhưng lại rất giàu vitamin và chất khoáng như kali, phốt pho, canxi, natri, lưu huỳnh và magiê.Hoa đặc biệt thích hợp cho người bị đái tháo đường do có rất ít đường. Hoa cũng giúp thải bớt chất độc cho những người mất cân bằng do uống nhiều rượu.Rễ: hầu như không có dẫn chất của axit caffeic, bao gồm cả axit Clorogenic và Sesquiterpen lacton. Rễ chỉ đều thông tiểu chứ không có tác dụng tăng tiết mật (theo Herbal Medicine, 1999).

10. Tác dụng dược lí / Pharmacological effects:

    "); color: rgb(37, 37, 37); font-family: sans-serif; font-size: 14px; font-style: normal; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; orphans: 2; text-align: start; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);">
  • Tiêm tĩnh mạch dung dịch atisô sau 2 - 3 giờ lượng mật bài tiết gấp 4 lần.
  • Cho uống hoặc tiêm dung dịch atisô làm hạ cholesterol và urê trong máu. Tăng lượng nước tiểu, tăng hàm lượng urê trong nước tiểu.
  • Hoa atisô có tác dụng giảm viêm, hạ cholesterol trong máu.
  • Atisô không độc.
  • Artichol tiêm và viên uống là sản phẩm tinh chế của atisô. Sau 30 năm có mặt trên thị trường Pháp * nay kiểm tra lại tác dụng dược lý và lâm sàng thấy không có tác dụng như dung dịch toàn phần atisô đã thử nghiệm trước. (Vì vậy Pháp đã ngừng sản xuất Artichol).
Kỹ thuật sơ chế atisô: Trong lá, hoa và thân, rễ của cây atisô chứa nhiều enzym (men) oxy hóa. Sau khi hái, các enzym sẽ hoạt động mạnh, phá hủy các hoạt chất chứa trong dược liệu. Vì vậy phải nhanh chóng diệt men để ổn định hoạt chất bằng các phương pháp sau:
    "); color: rgb(37, 37, 37); font-family: sans-serif; font-size: 14px; font-style: normal; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; orphans: 2; text-align: start; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);">
  • Hấp 5 phút trong hơi cồn sôi rồi phơi hoặc sấy khô ngay.
  • Ngâm trong dung dịch NaCl 5Ͽmuối ăn) rồi phơi hoặc sấy khô ngay.
  • Nếu không nhanh chóng diệt men mà chỉ phơi sấy khô dược liệu theo phương pháp thông thường thì 80 - 90Ͽoạt chất có trong atisô bị phá hủy (đó là điều các nhà sản xuất chế phẩm atisô phải quan tâm).

11. Đặc điểm nông học / Agronomic characteristics:

Gieo hạt tháng 10-11, bứng ra trồng tháng 1-2. Lúc cây sắp ra hoa, hái lấy lá, bẻ sống.Lá Atisô thu hái vào năm thứ nhất của thời kỳ sinh trưởng hoặc vào cuối mùa hoa. Khi cây trổ hoa thì hàm lượng hoạt chất giảm, vì vậy, thường hái lá trước khi cây ra hoa. Có tài liệu nêu là nên thu hái lá còn non vào lúc cây chưa ra hoa. Ở Đà Lạt, nhân dân thu hái lá vào thời kỳ trước tết Âm lịch 1 tháng

12. Kiểm nghiệm / Acceptance test:

Sấy hoặc phơi khô.

13. Bào chế, chế biến / Dosage, processed:

Bài 1: Thân cây atisô 40g, rễ 40g, hoa 20g, tất cả phơi khô, tán nhỏ, mỗi lần dùng 2g pha như pha nước chè.Bài 2: Hoa atisô 50g cũng phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 2g, pha như pha nước tràBài 3: Hoa atisô 100g, lá atisô 100g, luộc ăn như ăn các loại rau thông thường.

14. Sản phẩm đã lưu hành / Product stored:

Trà Atisô, Rau

Ba kích: Bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lý


Tên khác: Ba kích thiên, Dây ruột gà.

Bộ phận dùng: Rễ phơi hay sấy khô của cây Ba kích (Morinda officinalis How.), họ Cà phê (Rubiaceae).

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở một số vùng đồi núi nước ta. 



Mô tả:

Cây: Cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Thân non mầu tím, có lông, phía sau nhẵn. Cành non, có cạnh. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, cứng, dài 6-14cm, rộng 2,5-6cm, lúc non mầu xanh lục, khi già mầu trắng mốc. Lá kèm mỏng ôm sát thân. Hoa nhỏ, lúc non mầu trắng, sau hơi vàng, tập trung thành tán ở đầu cành, dài 0,3-1,5cm, đài hoa hình chén hoặc hình ống gồm những lá đài nhỏ phát triển không đều. Tràng hoa dính liền ở phia dưới thành ống ngắn. Quả hình cầu, khi chín mầu đỏ, mang đài còn lại ở đỉnh. Mùa hoa: tháng 5-6, mùa quả: tháng 7-10.

Dược liệu: Ba kích thiên hình trụ tròn, hơi cong, dài không nhất định, đường kinh 0,7-1,3cm. Mặt ngoài mầu vàng tro, nhám, có vân dọc. Vỏ ngoài và trong gẫy lộ ra phần lõi gỗ và vân nứt ngang, giống như chuỗi hạt trai. Chất cứng, cùi dầy, dễ bóc. Mặt gẫy mầu tím nhạt, ở giữa mầu nâu vàng. Không mùi, vị ngọt nhưng hơi chát.

Thu hái: Ba Kích trồng được 3 năm có thể thu hoạch. Thời gian thu hoạch thường vào tháng 10-11. Dùng cuốc đào rộng chung quanh gốc, lấy toàn bộ rễ rửa sạch. Loại rễ to, mập, cùi dầy, mầu tía là loại tốt. Rễ nhỏ, gầy, cùi mỏng, mầu trong là loại vừa.

Tác dụng dược lý:

1. Tăng sức dẻo dai: Với phương pháp  chuột bơi, Ba Kích với liều 5-10g/kg dùng liên tiếp 7 ngày thấy có tác dụng tăng sức dẻo dai cho súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).

2. Tăng  sức đề kháng: dùng phương pháp  gây nhiễm độc cấp bằng Ammoni Clorua trên chuột nhắt trắng, với liều 15g/kg, Ba Kích có tác dụng tăng cường sức đề kháng chung của cơ thể đối với các yếu tố độc hại (Trung Dược Học).

3. Chống viêm: Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột cống trắng bằng Kaolin với liều lượng 5-10g/kg, Ba Kích có tác dụng chống viêm rõ rệt (Trung Dược Học).

4. Đối với hệ thống nội tiết: thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt cho thấy Ba Kích không có tác dụng kiểu Androgen nhưng có thể có khả năng tăng cường hiệu lực của Androgen hoặc tăng cường quá trình chế tiết hormon Androgen (Trung Dược Học).

5. Nước sắc Ba Kích có tác dụng tương tự như ACTH làm cho tuyến ức chuột con bị teo (Trung Dược Học).

6. Nước sắc Ba Kích có tác dụng làm tăng co bóp của chuột và hạ huyết áp (Trung Dược Học).

7. Không có độc. LD50  của Ba Kích được xác định trên chuột nhắt trắng bằng đường uống là 193g/kg (Trung Dược Dược lý, Độc lý Dữ Lâm Sàng).

+ Rễ Ba kích chiết xuất bằng rượu có tác dụng giáng áp huyết; có tác dụng nhanh đối với các tuyến cơ năng; tăng cường não; chống ngủ ngon dùng Ba kích nhục (Trung Dược Dược lý, Độc lý Dữ Lâm Sàng).

+ Tác dụng đối với hệ nội tiết: Cho chuột và chuột nhắt uống Ba kích thiên thấy không có tác dụng giống như chất Androgen (Trung Dược Học).

+ Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường, Ba Kích có tác dụng làm tăng khả năng gioa hợp, đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu và thưa. Ba Kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, không thấy có tác dụng kiểu Androgen. Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực. Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh khi giao hợp thì xử dụng Ba Kích chưa thấy kết quả (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

+ Đối với cơ thể những người tuổi già, những bệnh nhân không biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu tố bệnh lý gây nên và 1 số trường hợp có đau mỏi các khớp, Ba Kích có tác dụng tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảmgiác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực. Còn đối với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba Kích dài ngày, các triệu chứng đau mỏi giảm rõ rệt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Thành phần hoá học chính: Anthranoid, đường, nhựa, acid hữu cơ. vitamin C.

Công năng: Ôn thận, tráng dương, cường tráng cân cốt, khử phong thấp

Công dụng: Chữa liệt dương, di tinh, phụ nữ khó có thai, kinh nguyệt chậm, bế kinh, đau lưng mỏi gối...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-16g dưới dạng thuốc sắc hay rượu thuốc. Phối hợp trong các phương thuốc bổ thận.

Chế biến:

1. Dùng nước Câu Kỷ Tử ngâm Ba Kích 1 đêm cho mềm, lấy ra ngâm rượu 1 đêm, vớt ra, sao với Cúc Hoa cho vàng thuốc, dùng vải lau sạch, để dành dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).

2. Ngâm với rượu 1 đêm cho mềm, xắt nhỏ, sấy khô, để dành dùng (Bản Thảo Cương Mục).

3.  Dùng Cam Thảo, giã dập, sắc, bỏ bã. Cho Ba Kích vào nấu cho đến khi xốp mềm, rút lõi, phơi khô. Liều lượng: 6kg Cam Thảo cho 100kg Ba Kích (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển)

4. Diêm Ba Kích: Trộn Ba Kích với nước Muối (20g Muối cho 1kg Ba Kích), cho vào chõ, đồ, rút lõi, phơi khô (Trung Dược Đại Từ Điển).

5. Rửa sạch, ủ mềm, bỏ lõi, thái nhỏ rồi tẩm rượu 2 giờ, sao qua hoặc nấu thành cao lỏng [1ml = 5g] (Phương Pháp  Bào chế Đông Dược Việt Nam).

Bài thuốc:

+ Trị liệt dương, ngũ lao, thất thương, ăn nhiều, hạ khí: Ba kích thiên, Ngưu tất (sống)  đều 3 cân ngâm với 5 đấu rượu, uống (Thiên Kim Phương).

+ Trị phụ nữ tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới hạ: Ba kích 120g, Lương khương 20g, Tử kim đằng 640g, Thanh diêm 80g, Nhục quế (bỏ vỏ)160g, Ngô thù du 160g. Tán bột. Dùng rượu hồ làm hoàn. Ngày uống 20 hoàn với rượu pha muối nhạt (Ba Kích Hoàn - Cục Phương).

+ Trị lưng đau do phong hàn, đi đứng khó khăn: Ba kích 60g, Ngưu tất 120g, Khương hoạt 60g, Quế tâm 60g, Ngũ gia bì 60g, Đỗ trọng (bỏ vỏ, sao hơi vàng) 80g, Can khương (bào) 60g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, uống với rượu ấm (Ba Kích Hoàn - Thánh Huệ Phương).

+ Trị tiểu nhiều: Ích trí nhân, Ba kích thiên (bỏ lõi), 2 vị chưng với rượu và muối, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử (chưng  với rượu). Lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng rượu chưng hồ làm hoàn to bằng hạt ngô đồng lớn, mỗi lần uống 12 viên với rượu pha muối hoặc sắc thành thang uống với muối ( Kỳ Hiệu Lương Phương).

+ Trị bạch trọc: Thỏ ty tử (chưng rượu 1 ngày, sấy khô), Ba kích (bỏ lõi, chưng rượu), Phá cố chỉ (sao), Lộc nhung, Sơn dược, Xích thạch chi, Ngũ vị tử đều 40g. Tán bột, Dùng rượu hồ làm hoàn, uống lúc đói với nước pha rượu (Phổ Tế Phương).

+ Trị bụng đau, tiểu không tự chủ: Ba kích (bỏ lõi), Nhục thung dung, Sinh địa đều 60g, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử, Sơn dược, Tục đoạn đều 40g, Sơn thù du, Phụ tử (chế), Long cốt, Quan quế, Ngũ vị tử đều 20g, Viễn chí 16g, Đỗ trọng (ngâm rượu, sao) 12g, Lộc nhung 4g. Tán bột, làm hoàn 10g. Ngày uống 2-3 hoàn (Ba Kích Hoàn - Chứng Trị Chuẩn Thằng).

+ Trị mạch yếu, mặt trắng nhạt, buồn sầu ca khóc: Ba kích (bỏ lõi), Hồi hương (sao), Nhục thung dung (tẩm rượu), Bạch long cốt, Ích trí nhân, Phúc bồn tử, Bạch truật, Mẫu lệ, Thỏ ty tử, Cốt toái bổ (bỏ lông), Nhân sâm đều 40g. Tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-20g (Ba Kích Hoàn - Y Học Phát Minh).

+ Trị Thận bị hư hàn, lưng và gối đau, liệt dương, tiểu nhiều, không muốn ăn uống, xương khớp yếu, đứng ngồi không có sức, bàng quang bị yếu lạnh, vùng rốn và bụng đầy trướng: Ba kích 30g, Bạch linh 22g, Chỉ xác 22g, Hoàng kỳ 22g, Lộc nhung 30g, Mẫu đơn 22g, Mộc hương 22g, Ngưu tất 22g, Nhân sâm22g, Nhục thung dung  30g, Phụ tử  30g, Phúc bồn tử 22g, Quế tâm 22g, Sơn thù 22g, Tân lang 22g, Thạch hộc 30g, Thục địa 30g, Thự dự 22g, Tiên linh tỳ 22g, Trạch tả 22g, Tục đọan 22g Viễn chí 22g, Xà sàng tử 22g. Tán bột, hoà mật làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu nóng, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Thái Bình Thánh Huệ Phương).
+ Trị thận bị hư lao, lưng và chân đau, chảy nước mắt sống, hoảng sợ, khát, ăn uống không tiêu, bụng ngực thường đầy trướng, tay chân tê đau, nôn ra nước chua, bụng dưới lạnh đau, tiểu són, táo bón: Ba kích 30g, Bá tử nhân  22g, Bạch linh 22g, Đỗ trọng 22g, Ngũ gia bì 22g, Ngưu tất 22g, Nhục thung dung 30g, Phòng phong 22g, Phúc bồn tử 22g, Thạch hộc 22g, Thạch long nhục 22g, Thạch nam 22g, Thiên hùng 30g, Thiên môn 40g, Thỏ ty tử  30g, Thục địa30g, Thự dự  22g, Trầm hương 30g, Tục đoạn 30g, Tỳ giải22g, Viễn chí 22g, Xà sàng tử  22g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, ngày uống 16 -20g với rượu nóng, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Thánh Huệ Phương).

+ Trị nguyên khí bị hư thoát, mặt xạm đen, miệng khô, lưởi dính, hay mơ, hoảng sợ, chảy nước mắt sống, tai ù như ve kêu lưng nặng, đau, các khớp xương đau nhức, âm hư, ra mồ hôi trộm tay chân không có sức, tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều xích bạch đới hạ: Ba kích 90g, Lương khương 180g, Ngô thù 120g, Nhục quế 120g, Thanh diêm 60g, Tử kim đằng 500g.  Tán bột, trộn với rượu nếp làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu hoà ít muối hoặc nước muối loãng (Ba Kích Hoàn - Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương).

+ Trị liệt dương: Ba kích 30g, Đỗ trọng 30g, Ích trí nhân 30g, Ngũ vị tử 30g, Ngưu tất 30g, Nhục thung dung 60g, Phục linh 30g, Sơn dược 30g, Sơn thù 30g, Thỏ ty tử 30g, Tục đoạn 30g, Viễn chí  30g, Xà sàng tử 30g. Tán bột. Luyện mật làm hoàn, ngày uống 12 - 16 g với rượu, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Ngự Dược Viện).

+ Trị bụng ứ kết lạnh đau, lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, khớp xương đau, chuột rútû, thận hư, liệt dương : Ba kích 18g, Đương quy 20g, Khương hoạt 27g, Ngưu tất 18g,   Sinh khương  27g, Thạch hộc 18g, Tiêu 2g.   Giã nát, cho vào bình, thêm 2 lít rượu vào, đậy kín, bắc lên bếp, nấu 1 giờ, sau đó ngâm trong nước lạnh cho nguội. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15  -  20ml (Ba Kích Thiên - Thánh Tế Tổng Lục).

+ Bổ thận, tráng dương, tăng trưởng cơ nhục, dưỡng sắc đẹp: Ba kích (bỏ lõi )   60g, Cam cúc hoa 60g, Câu kỷ tử 30g, Phụ tử (chế) 20g, Thục địa 46g, Thục tiêu 30g. Tán bột, cho vào bình, ngâm với 3 lít rượu. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 -  20ml,  lúc đói (Ba Kích Thục Địa Tửu -  Nghiệm Phương)

+ Trị sán khí do Thận hư: Ba kích thiên, Hoàng bá, Quất hạch, Lệ chi hạch, Ngưu tất, Tỳ giải, Mộc qua,  Kim linh tử,  Hoài sơn, Địa hoàng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị liệt dương: Ba kích thiên, Bá tử nhân, Bổ cốt chỉ, Câu kỷ tử , Lộc nhung, Ngũ vị tử, Nhục thung dung, Sơn thù du (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị mộng tinh: Ba kích thiên, Bá tử nhân, Hoàng bá, Liên tu, Lộc giác, Phúc bồn tử, Thiên môn, Viễn chí (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị liệt dương, di tinh, tiết tinh do Thận dương hư:  Thỏ ty tử, Nhục thung dung (Trung Dược Học).

+ Trị tiểu nhiều, tiểu không tự chủ do Thận dương hư: Bổ cốt chỉ, Phúc bồn tử (Trung Dược Học).

+ Trị gân cơ sưng đau, gân cơ suy yếu, teo cơ, khớp đau mạn tính do Thận hư:  Đỗ trọng, Ngưu tất, Tục Đoạn (Trung Dược Học).

+ Trị liệt dương, tảo tinh, tiết tinh, lưng đau, vô sinh (ở nữ) do Thận dương hư: Ba kích thiên 12g, Ngũ vị tử 6g, Nhân sâm 8g, Thục địa 16g, Nhục thung dung, Long cốt, Cốt toái bổ đều 12g. Tán bột, trộn mật làm hoàn 12g. Ngày uống 2-3 lần  (Ba Kích Thiên Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị lưng đau, di tinh, hoạt tinh do Thận hư: Ba kích thiên, Đảng sâm, Phúc bồn tử, Thỏ ty tử, Thần khúc đều 12g, Sơn dược 24g. Tán bột, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, ngày 2-3 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị người lớn tuổi lưng đau, chân tê, chân yếu, chân mỏi: Ba kích thiên, Xuyên tỳ giải, Nhục thung dung, Đỗ trọng, Thỏ ty tử, lượng bằng nhau, Lộc thai 1 bộ. Tán nhuyễn, trộn với mật làm hoàn. Mỗi lần  uống 8g, ngày 2-3 lần với nước ấm  (Kim Cương Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị phong thấp đau nhức, cước khí, phù: Ba kích, Đỗ trọng, Ngưu tất, Tục đoạn đều 12g, Tang ký sinh 10g, Sơn thù nhục 8g, Hoài sơn 16g. Sắc uống (Ba Kích Khu Tý Thang - Trung Dược Ưùng Dụng Lâm Sàng).

+ Trị huyết áp cao thời kỳ tiền mãn kinh: Ba kích thiên, Tiên mao, Hoàng bá, Dâm dương hoắc, Tri mẫu, Đương qui, mỗi thứ 20 - 28g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Bạch đậu khấu - bài thuốc chữa ợ chua và tiêu hoá kém

Bạch đậu khấu hay là Đậu khấu, tên khoa học là Amomum cardamomum L. thuộc họ Gừng (ZINGIBERACEAE). Đậu khấu là quả gần chín phơi hay sấy khô của cây Bạch đậu khấu.

Đậu khấu là loại cỏ mọc lâu năm. Thân rễ có vảy, từ thân rễ có những trục mang lá và trục mang hoa, quả nhô lên mặt đất. Thân mang lá có thể cao 2–3 mét, lá mọc so le không cuống. Quả có sắc tro trắng hình cầu, bóp dễ vỡ. Trong quả có 3 buồng chứa 9 – 12 hạt vàng nhạt có mùi thơm cay tê, ngậm thấy có khí ấm, sảng khoái.

Theo Đông y, Đậu khấu có tính ấm, vị cay, không độc, vào các kinh Tỳ, Vị và Phế, có tác dụng hành khí, ấm dạ dày chữa nôn mửa ợ chua, tiêu hóa kém, bệnh phổi và làm tan màng mờ trong mắt. Bạch đậu khấu có khí thơm, nếu sao qua lửa hoặc sắc lâu sẽ giảm tác dụng, nên sao sơ tán bột hòa nước sắc thuốc uống là tốt nhất.

Bài thuốc có Bạch đậu khấu

* Trị dạ dày bị lạnh ăn vào nôn ra

Nhân sâm 10g, Bạch đậu khấu 12g, Quất bì 8g, Bạch truật 10g, Bạch linh 10g, Gừng sống 3 lát. Nước vừa đủ, sắc còn 1/3 uống ấm trước hoặc sau bữa ăn 60 phút.

*Trị đờm lạnh tích ở dạ dày gây nôn mửa

Bạch đậu khấu 12g, Bán hạ 10g, Quất hồng 8g, Bạch truật 10g, Phục linh 10g, Gừng sống 3 lát. Nước vừa đủ, sắc còn 1/3 uống ấm trước hoặc sau bữa ăn 60 phút.

Trị tỳ hư, lòng trắng mắt có màng che

Bạch đậu khấu 12g, Quất bì 8g, Bạch truật 10g, Bạch tật lê 10g, Quyết minh tử 8g, Cam cúc hoa 6g, Mật mông hoa 6g, Mộc tặc thảo 8g, Cốc tinh thảo 8g. Nước vừa đủ, sắc còn 1/3 uống sáng và tối trước khi đi ngủ.

Trị khí trệ ở thượng tiêu

Bạch đậu khấu 12g, Hoắc hương 8g, Quất bì 8g, Mộc hương 8g. Nếu đàn bà bị khí nghịch không hòa thì thêm: Ô dược 4g, Hương phụ chế 6g, Tử tô 6g. Sắc uống như bài thuốc trên.

Cuối thu đau sốt rét lạnh nhiều nóng ít, nôn, ăn kém

Bạch đậu khấu 16g, Nhân sâm 12g, Bạch truật 12g, Quất bì 10g, Gừng sống 3 lát. Sắc uống như bài trên.

Tỳ vị lạnh, đau ngực, ăn vào ói ra:

Bạch đậu khấu 3 quả giã nhỏ, rượu tốt 1 chén uống ấm, 2 lần trong ngày.

Bỗng nhiên đau ngực

Bạch đậu khấu giã nhỏ đun nóng uống, 1 lần 4g, ngày 2 lần. Hoặc ngậm, nhá Bạch đậu khấu hàng ngày cũng có hiệu quả.

Trẻ em bị nôn do lạnh, bú vào lại trớ ra

Bạch đậu khấu 14 nhân (bỏ vỏ lấy nhân), Sa nhân 14 nhân, Cam thảo 8g tán bột, dùng bột xát vào miệng trẻ.

Trị tỳ hư phản vị (ăn vào ói mửa ra)

Bạch đậu khấu 80g, Sa nhân 80g, Đinh hương 40g, Gạo tẻ lâu năm 100g. Lấy đất sét khô trộn với gạo sao cháy, bỏ đất sét. Tất cả các vị tán nhỏ dùng nước gừng hòa làm viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 8 – 12g với nước gừng.

Ợ nấc sau đẻ:

Bạch đậu khấu, Đinh hương đều 20g, tán nhỏ, mỗi lần uống 4g với nước gừng, ngày uống 2 lần.

Bài Thuốc Quý Từ Lúa Gạo

Lúa gạo là lương thực chính của nhân dân Việt Nam và của hàng tỷ người châu Á và thế giới. Lúa gạo còn là những vị thuốc quý, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa. Lúa gạo cũng được áp dụng để cuộc sống tốt hơn.

Lúa gạo là cây lương thực chính của nước ta. Ngày xưa từ thời vua Hùng, người dân Lạc Việt đã biết gói và thưởng thức bánh chưng; người xưa đã biết nấu cơm lam là điển hình độc đáo của nhân dân ta. Qua quá trình sản xuất và tiêu dùng, người xưa để lại hàng trăm giống lúa trong đó có những giống lúa rất thơm, ngon, dẻo như Nếp cái hoa vàng, Nếp bắc, Nếp con, Nếp cẩm, Tám trắng, Dự hương, Dự thơm, Dự cánh, Dự vàng, Nàng thơm, Nàng thơm chợ Đào, Nàng thơm Bình Chánh, Nàng hương Thanh Trà, Nàng hương trắng…

Mấy chục năm gần đây, nước ta đã nhập rất nhiều giống lúa của Viện Lúa quốc tế và của các nước, các nhà khoa học đã bình tuyển chọn lọc và lai tạo được nhiều giống lúa tốt.

Sản xuất lúa gạo nước ta đã thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng trong nước và mỗi năm còn xuất khẩu được 4 – 5 triệu tấn gạo, đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. 

LÚA GẠO LÀM THUỐC

Đông y rất chú ý nghiên cứu dùng lúa gạo làm thuốc. Lương y Phan Tấn Tô đã nghiên cứu sưu tầm được nhiều bài thuốc dùng lúa, gạo, cơm làm thuốc bổ dưỡng sức khỏe, thuốc trị bệnh. Theo lương y, lúa gạo tẻ, gạo nếp và những chế phẩm của chúng đều có thể làm thuốc.

Gạo tẻ (còn gọi là ngạnh mễ) vị ngọt, tính bình, làm cho khỏi khát, tiêu đàm, cầm ỉa, làm thuốc bổ dưỡng khí huyết. Ngày dùng 20 – 30g hoặc nhiều hơn.

Gạo nếp có vị ngọt, tính ấm, làm ấm bụng, mạnh tỳ, bổ phế thận, trị ói mửa, tỳ vị hư yếu, đau dạ dầy, tiểu tiện ra chất nhờn. Ngày dùng 12 – 20g hoặc nhiều hơn.

Gạo lâu năm (còn gọi là trần mễ) gạo càng để lâu năm càng tốt. Gạo này vị chua mặn, tính ấm, không độc, có tác dụng nuôi dưỡng vị khí, tiêu thực, trừ phiền khát, chữa đầy tức, cầm tả lỵ. Ngày dùng 12 – 30g hoặc nhiều hơn.

Các nhà dược học Mỹ cũng dùng gạo rang chữa tiêu chảy. Gạo rang cháy tán thành bột pha chè uống thay nước. Hội Dược lý Mỹ dùng cám gạo cho da đẹp…, dùng cám gạo bọc trong lớp vải mịn, chà xát lên da thay xà phòng hoặc dùng cám gạo làm nẹp cố định xương gẫy (theo Rau hoa quả chữa bệnh).

Dưới đây là những bài thuốc trích từ sách Chữa bệnh bằng thức ăn thông thường của LY.Phan Tấn Tô:

BÀI THUỐC TỪ CƠM GẠO TẺ

1. Ỉa lỏng khát nước: Gạo tẻ 20 – 30g, rang cháy đen các hạt dính nhau. Dùng nước sôi pha như pha chè uống hoặc sau khi rang cháy, thêm 1,5 lít nước sắc uống. Vừa có tác dụng cầm ỉa, vừa tiêu thức ăn tích tụ, hết trướng bụng.

2. Hoắc loạn, thổ tả, phiền khát, người mệt lả, bệnh nguy cấp: Gạo tẻ 20g sao, tán mịn, nước vòi măng tre 10g (giã nát vắt lấy nước). Hai thứ hòa chung với một chén nước sôi, để nguội uống từng hớp.

3. Đờm nhiều sinh suyễn: Dùng tỏi giã nát với bột gạo tẻ, làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng 8 – 10 viên với nước muối, nấu sôi để nguội, uống vào lúc đói bụng. Ngày 3 – 4 lần.

4. Mồ hôi ra không ngừng: Gạo tẻ trắng, tán mịn, bỏ vào túi vải, xát luôn, sẽ đỡ dần rồi lành.

5. Ăn vào mửa ra, thổ ra: Gạo lâu năm, nấu nước uống từng muỗng nhỏ, cách 10 – 15 phút uống một lần.

6. Trẻ em đi tướt: Gạo lâu năm sao thật vàng 30 – 40g, Gừng tươi 2g thêm vào 3 bát nước, nấu cháo cho ăn, có thể lọc nước cho uống. Nếu trẻ đi tướt vì nhiệt (môi đỏ hồng, khát nước, đít nóng đỏ) thì chỉ dùng gạo không sao.

7. Động thai ra huyết: Trứng gà 2 quả, luộc hồng đào, trộn đều bột gạo tẻ, ăn.

BÀI THUỐC TỪ CƠM GẠO NẾP

1. Bệnh lỵ cấm khẩu: Lúa nếp 80g sao giòn nở đều, nhặt bỏ trấu, rưới nước vừa ẩm, trộn đều. Sao lại lần hai cho giòn, tán mịn. Mỗi lần dùng một thìa canh bột hòa với nước uống, ngày vài lần.

2. Ụa mửa ra nước chua: Gạo nếp 12g sao vàng, Gừng tươi 5 lát sắc với 1,5 bát nước để còn một nửa. Uống từng hớp một. Thang này còn dùng để chữa thương hàn, mình nóng sốt, nôn ọe kèm theo nhiều chứng nguy cấp.

3. Tỳ vị hư yếu, ỉa lỏng lâu ngày: Gạo nếp 40g (ngâm nước một đêm, phơi khô, sao vàng), Hoài sơn 40g, Hồ tiêu 20g tán mịn, trộn đều. Mỗi lần dùng 10g, hòa nước đường uống, ngày 3 lần.

4. Hoắc loạn, thổ tả, nguy cấp: Gạo nếp 12g, Gừng tươi 3 lát. Giã nát gạo hòa thêm ít nước, lọc bỏ bã uống dần.

5. Trẻ ho ra máu: Gạo nếp 24g, Rễ dâu 40g, sao vàng tán mịn, mỗi lần dùng 6g, uống với nước cơm mỗi ngày 3 lần.

6. Trẻ mới đẻ hay bị ọc sữa: Gạo nếp 10 hạt (sao đen), nước 12ml, sữa 12ml cho vào chén đun cách thủy, uống dần.

7. Đau dạ dày: Ăn cơm nếp nấu nhão hàng ngày.

8. Lao tâm thổ huyết: Gạo nếp 20g, Tim sen 7 cái, tán mịn, thêm chút rượu uống.

9. Thiếu sữa: Gạo nếp 40g, Nõn dứa gai 80g, thêm 3 lát Gừng, nấu cháo, bỏ Nõn dứa, ăn cháo.

10. Vú sưng đau nhức: Gạo nếp 40g, Cam thảo 10g, nấu nước uống trong ngày, có thể dùng lá Bồ công anh giã nát đắp bên ngoài vú.

Ban tròn

1. Tên gọi:

- Tên Việt Nam / Vietnamese name:  Ban tròn

- Tên khác / Other name:  

- Tên khoa học / Scientific name:  Hypericum patulum Thunb. ex Murray

- Đồng danh / Synonym name:  H. uralum Ham. ex Don, Prodr.; Norysca patula (Thunb. ex Murr.) J. Voigt.; Komana patula (Thunb. ex Murr.) Y. Kimura ex Honda

2. Họ thực vật / Plant family:  Họ Ban (Hypericaceae)

Ban tròn
 

3. Mô tả / Description:

Cây bụi, cao 0,3 – 1,5 m, mọc thành bụi; các cành khi non có 4 gờ thấp hoặc 4 cạnh, sau thành 2 gờ nông và cuối cùng thành hình trụ tròn; đốt thân dài 1 – 4 cm. Lá mọc đối chữ thập lúc non, sau xếp thành 2 hàng không rõ, cuống lá dài 0,5 mm; phiến hình trứng đến hình mác, dài 1,5 – 5 cm, rộng 0,5 – 3 cm, đầu lá tù – thường có mũi nhỏ, gốc lá hình nêm rộng hoặc có hình tim; mặt trên màu xanh, mặt dưới trắng mốc; gân chính 2 – 3 đôi, gân mạng mờ; trên mặt lá có tuyến dạng vạch ngắn hoặc dạng điểm, dày đặc. 
 
Cụm hoa xim 2 ngả, gồm 1 – 3 hoa hoặc nhiều hơn, mọc ở 1 – 2 đốt đầu cành. Hoa màu vàng, đường kính 3,5 – 5 cm, cuống hoa dài 4 – 7 mm. Lá bắc hình thuôn, sớm rụng. Lá đài 5, rời và không bằng nhau, xếp lợp; hình trứng rộng đến gần hình cầu; dài 7 – 10mm, rộng 4,5 – 7,5 mm, đầu hơi tù hoặc tròn; mép nguyên, có các tuyến dạng vạch sẫm màu. Cánh hoa màu vàng, hình trứng ngược rộng; dài 1,5 – 2,4 cm, rộng 1,2 – 2 cm; mép nguyên, có tuyến dạng vạch theo chiều dọc. Nhị xếp thành 5 bó, mỗi bó có 76 – 109 nhị, nhị dài nhất đạt 9 – 12 mm; bao phấn màu vàng. Bầu hình trứng rộng, cao 5 – 6,5 mm, đường kính 3 – 4 mm. Vòi nhuỵ 5, dài 4 – 5,5 mm, rời nhau; núm nhuỵ gần như không thành đầu. Quả nang, hình trứng rộng, dài 1 – 1,5 cm, rộng 0,8 – 1,0 cm. Hạt màu nâu, hình trụ, dài 1 – 1,2 mm; gần như không có gờ lồi ở 2 bên, có vân dạng sóng mờ

4. Phân bố / Coverage:

Lào Cai (Lô Quý Hồ gần thị trấn Sa Pa), Lai Châu (Phong Thổ, San – ta – ngay). Còn có ở Trung Quốc (Thiển Tây, Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Quý Châu, Đài Loan...), Nhật Bản, Nam châu Phi. Cây mọc ở rừng thưa, đồi cây bụi, các vách đá và ven đường đi

5. Tọa độ địa lý / Geographical coordinates:

6. Diện tích vùng phân bố / Coverage acreage :

7. Bộ phận dùng / Compositions used:

Cả cây

8. Công dụng / Uses:

Công dụng dùng làm thuốc chủ yếu (đã thu thập được hoặc đã được chứng minh): Hạt dùng trị chó cắn và ong đốt; Cả cây được dùng làm thuốc trị bệnh viêm gan, chảy máu cam, kiết lỵ, cảm mạo, đi tiểu nước đái đục, đau gân cốt, sa đì; dùng ngoài trị thủy đậu. Cả cây dùng trị bệnh cảm mạo, chảy máu cam, viêm gan, kiết lỵ, đái đục, đau gân cốt, sa đì. Dùng ngoài trị thủy đậu

9. Thành phần hóa học / Chemical composition:

Các hợp chất có trong ban tròn bao gồm sterol, coumarin, hợp chất phenol, flavonoid, acid nhân thơm, đường tự do. Trong đó thành phần chủ yếu là flavonoid  với 3 chất đã được xác định cấu trúc hoá học gồm quercitrin, astilbin (2,76%), quercetin.

10. Tác dụng dược lí / Pharmacological effects:

·         Tác dụng bảo vệ gan: ban tròn có tác dụng làm giảm hoạt độ enzym AST, ALT và nồng độ bilirubin trong huyết thanh chuột cống trắng bị gây viêm gan bằng CCl4.
 
·         Tác dụng chống viêm gan mạn và ức chế xơ gan: ban tròn có tác dụng làm giảm hàm lượng collagen trong gan chuột cống trắng bị gây viêm gan mạn bằng CCl­4.
 
·         Tác dụng chống oxy hóa: ban tròn có tác dụng làm giảm hàm lượng MDA trong gan chuột cống trắng bị gây tăng peroxy hóa lipid bằng CCl4.
 
·         Tác dụng trên tổ chức tế bào gan: ban tròn có tác dụng bảo vệ gan và ức chế quá trình xơ gan trên chuột cống trắng bị gây xơ gan bằng CCl4, tuy không ngăn hoàn toàn nhưng đã cải thiện rõ rệt tổn thương gan, đặc biệt đã hạn chế mức độc xơ hóa gan rất nhiều so với lô chuột bệnh lý không được điều trị
 
·         Tác dụng hỗ trợ điều trị viêm gan: ban tròn có tác dụng chống viêm mạn trên mô hình gây u hạt thực nghiệm bằng amian và có tác dụng lợi mật trên chuột nhắt trắng.
 
Có tác dụng giảm stress

11. Đặc điểm nông học / Agronomic characteristics:

12. Kiểm nghiệm / Acceptance test:

13. Bào chế, chế biến / Dosage, processed:

14. Sản phẩm đã lưu hành / Product stored:

Bật mí tác dụng của rau càng cua

Cây càng cua còn gọi là cây Càng cua chín mé

Mô tả : cây thân mềm, thuộc thảo, lá mọc so le, cành so le, để nhánh tại nách lá ngắn, diện tích từ 1 -2 cm2 , phiến lá hình trái xoan, cuống lá hình tim, đầu nhọn, thân và lá trong xanh, mọng nước,Gân lá thường có 5 gân, hoa nhỏ mọc ở đọt, thường kết hạt nhỏ li ti kết trên cuống hoa.

Phân bố, thu hái và chế biến: Cây mọc khắp nơi ở nước ta, thường mọc nơi có độ ẩm cao, ở vườn hay chậu kiểng... đều mọc tốt . Lâu ngày, cây bò rộng thành bụi, phát tán hạt, mọc nhiều cây con. Hạt có tính tiềm sinh cao, tồn tại lâu khi ở môi trường khô khắc nghiệt, khi có ẩm độ tốt lại phát triển thành cây.

Làm thuốc thường dùng tươi vì cây mọc suốt 4 mùa.

Nhân dân thường trộn với rau sống ăn tươi hoặc tái cùng thịt bò, ăn rất bổ và mát.

Tính vị quy kinh: (theo nghiên cứu của tác giả) vị chua, tính mát vào kinh can và thận.

Tác dụng: Mát gan, thanh nhiệt bổ thận âm, tiêu độc, lượng huyết.
ứng dụng lâm sàng: diều trị các thể bệnh: thận nhiệt, can nhiệt, huyết nhiệt, huyết độc, nội nhiệt, ban càng cua, bệnh chín mé.

Liều dùng: Uống 50 - 100g tươi mỗi ngày.

Kinh nghiệm dùng cây Càng cua

Cho các bệnh nhân có nhiệt nóng dùng cây Càng cua giã nát, vắt nước uống hoặc chần tái ăn với thịt bò.  Ăn từ  5 đến 7 ngày thì kết quả tốt, cơ thể mát dịu bình hoả (thường dùng tốt với các mạch tượng: huyền, sác, khẩu tế...).theo kinh nghiệm gia truyền, dùng rau Càng cua chữa bệnh ban cua, chín mé (Sưng, nhiễm khuẩn đầu ngón tay chân..) hiệu quả cao

 

Bèo cái - món "rau lợn" cũng là vị thuốc quý

Cây Bèo cái hay còn gọi là Bèo ván, Bèo tai tượng, Đại phù bình.
Tên khoa học là: Pistia stratiotes L.Họ Ráy: ARACEAE
Bèo cái là cây thảo, không có thân. Rễ ngập chìm trong nước. Lá mọc từ rễ có hình hoa thị, gốc lá thuôn hẹp hình bẹ, đầu lá tròn loe rộng, mặt trên nhẵn sẫm mầu, mặt dưới có lông mịn, mầu trắng xám hoặc đỏ tía, gân lá xếp hình quạt. 
Cụm hoa là một mo hình lá, mầu trắng nhạt gồm một ống hình trứng và phần phiến hình trứng và phần phiến hình trái xoan nhọn, mặt trong nhẵn, mặt ngoài không có lông, trục hoa ngắn, 2 – 8 hoa đực ở trên, một hoa cái ở dưới; hoa trần; hoa đực có 2 nhị ngắn dính nhau, bao phấn có 2 ô, hoa cái có bầu hình trứng chứa nhiều noãn.
Quả mọng hình trứng, chứa nhiều hạt.Mùa hoa quả: tháng 5 – 10
Theo y học cổ truyền, Bèo cái có vị cay, tính hàn, quy vào 2 kinh phế và thân.
Công năng, chủ trị:
- Làm cho sởi đậu mọc, dùng tốt đối với bệnh nhân ở thời kì đầu, sởi khó mọc.
- Lợi thủy tiêu phù thũng, dùng cho các trường hợp viêm thận cấp mạn tính gây phù nề, dùng bột khô 4g, uống với nước đun sôi để nguội; có thể đem đồ chín, sau phơi khô tán bột, ngày uống 2 lần.
- Giải độc, trị mẩn ngứa, mụn nhọt có thể sao vàng sắc uống; hoặc lấy cây tươi đun nước, xông vào chỗ ngứa. Nếu bị eczema, lấy bèo rửa sạch, thêm muối giã nát, đắp vào.
- Bình suyễn: dùng cây tươi, ép lấy nước rồi pha vào siro uống dần, có thể uống dài ngày; nên phối hợp với một số vị thuốc khác như Trần bì.Theo y học hiện đại, thuốc có tác dụng kháng khuẩn (ức chế tụ cầu vàng)
Bạn có thể tham khảo thêm CTQ số 82, bài viết “Bèo ván tía – vị thuốc Nam chữa nhiều bệnh thông thường” của L/Y Minh Chánh với tác dụng chữa 25 chứng bệnh thông thường của Bèo cái có liều dùng và cách dùng cụ thể. 

Bồ Bồ

1. Tên gọi:

- Tên Việt Nam / Vietnamese name:  Bồ Bồ

- Tên khác / Other name:  Chè đồng, Chè nội, Chè cát, Nhân trần

- Tên khoa học / Scientific name:  Adenosma indianum (Lour.) Merr

- Đồng danh / Synonym name:  Adenosma capitatum Benth.

2. Họ thực vật / Plant family:  Họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae)

 
bobo
 

3. Mô tả / Description:

Cây thảo, sống một năm, cao 20-60 cm, có nhiều lông. Thân hình trụ, cứng, mọc đứng, đơn hoặc phân nhánh. Lá mọc so le, hình bầu dục, dài 2-6 cm, mép có răng cưa tròn, gân nổi rõ ở mặt dưới; cuống ngắn. Cụm hoa mọc thành bông, thường có hình cầu, bao bọc bởi tổng bao nhiều lá bắc dạng lá ở bên dưới, có lông như len màu trắng; đài có 5 răng nhọn, gần đều; tràng màu xanh lơ nhẵn, có ống dài hơn đâì, môi trên nguyên, môi dưới dài bằng môi trên, chia 3 thùy gần bằng nhau, thùy giữa lõm ở đầu; nhị đính ở 1/3 phái trên của ống tràng; bầu nhẵn. Quả nang nhẵn, hình trứng, dài 3-4mm, có mũi nhọn ngắn; hạt nhỏ, nhiều. Mùa hoa quả: tháng 4-7

4. Phân bố / Coverage:

Có nhiều ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa và Quảng Ninh. Cây còn phân bố ở Nam Trung Quốc, Ấn Độ và Malayxia. Cây thường mọc thành đám trên các vùng đồi thấp và bờ nương rẫy ở vùng trung du phía bắc

5. Tọa độ địa lý / Geographical coordinates:

6. Diện tích vùng phân bố / Coverage acreage :

7. Bộ phận dùng / Compositions used:

Thân cành mang lá, hoa đã phơi khô

8. Công dụng / Uses:

Công dụng dùng làm thuốc chủ yếu (đã thu thập được hoặc đã được chứng minh): Được dùng làm thuốc chữa viêm gan, vàng da, sốt nóng, kém tiêu, bí tiểu tiện, kích thích ăn ngon và chóng lại sức ở phụ nữ sau khi đẻ. Liều dùng hàng ngày: 8 – 20 g dưới dạng thuốc sắc, hoặc thuốc viên.

9. Thành phần hóa học / Chemical composition:

  • Saponin triterpen
  • Acid nhân thơm
  • Coumarin
  • Flavonoid
  •  Tinh dầu 0,7-1% màu vàng nhạt gồm l-fenchon 33,5%, l-limonen 22,6%, a- humulen 11,6%, cineol 5,9%, fechol, piperitenon oxyd và sesquiterpen oxyd.
  • Terpenoid: 5L-monoterpen, 2D-sesquiterpen, triterpen
  • Kali nitrat  (1,67% )
  • Ngoài ra bồ bồ chứa acid clorogenic, acid neochorogenic, acid cafeic, 17-metyl Δ5-8 androsten 3, 17-diol

10. Tác dụng dược lí / Pharmacological effects:

Tác dụng diệt giun: Tinh dầu và nước cất từ bồ bồ có tác dụng diệt giun đất, giun đũa và giun móc. Giun đất sau khi tiếp xúc với thuốc sẽ quằn qoại trong vòng 10-15 phút rồi chết, còn giun đũa phải sau 2-3 giờ mới chết. * Tác dụng lợi mật: thí nghiệm trên chuột, cao cồn, cao nước và tinh dầu chiết từ bồ bồ có tác dụng gây tăng tiết mật rõ rệt, trong đó, dạng cao cồn có tác dụng mạnh nhất. cao cồn, tinh dầu bồ bồ còn có tác dụng tăng cường công năng thanh thải độc của gan. * Tác dụng chống viêm: trên mô hình gây phù bàn chân do tiêm nhũ dịch kaolin và trên mô hình gây u hạt thực nghiệm bằng cách cấy dưới da sợi amian, bồ bồ đều có tác dụng chống viêm rõ rệt, tham gia vào tác dụng chủ yếu này là những thành phần tan trong cồn và tan trong nước, còn tinh dầu không có tác dụng chống viêm. *Tác dụng kháng khuẩn: cao cồn và cao nước của bồ bồ có tác dụng ức chế sự phát triển của các khuẩn Shigella dysenteriae… * Đối với dạ dày, bồ bồ có tác dụng làm giảm rõ rệt sự phân tiết dịch vị , giảm độ acid tự do và acid toàn phần. Trên mô hình gây loét dạ dày thực nghiệm ở chuột cống trắng, bồ bồ có tác dụng giảm gây loét một cách rõ rệt. * Độc tính: Trên súc vật thí nghiệm, đã dùng liều cao gấp 20 lần liều có tác dụng, súc vật vẫn sống an toàn, chứng tỏ bồ bồ không độc.

11. Đặc điểm nông học / Agronomic characteristics:

12. Kiểm nghiệm / Acceptance test:

13. Bào chế, chế biến / Dosage, processed:

14. Sản phẩm đã lưu hành / Product stored:

Các công dụng chữa bệnh hiệu quả từ la chè xanh

Kết quả hình ảnh cho lá chè xanh

Chè xanh là loại nước uống quen thuộc của mọi người. Nước chè xanh có tác dụng giải nhiệt rất tốt. Ngoài ra theo Đông y thì chè xanh còn có tác dụng giúp tiêu hóa tốt, lợi tiểu, định thần và có tác dụng diệt khuẩn, giúp vết thương mau khô và chóng lên da non.

Chè xanh được trồng nhiều ở nước ta. Nó thuộc loại cây cơ vừa cao tầm 1-6m. Để được chè ngon nên thu hái những lá bánh tẻ (lá không non quá cũng không già quá), không sâu, không giập. Cách nấu nước chè xanh cũng đơn giản. Dùng lá chè tươi bánh tẻ vừa thu hái được, rửa sạch, vò lá chè cho vào ấm sau đó đổ nước sôi vào, đem ủ kín khoảng 30 phút là dùng được. Sau đây là một số bài thuốc từ chè, xin được chia sẻ với bạn đọc.

1. Ăn không tiêu, đầy bụng

Để trị chứng ăn không tiêu, đầy bụng trong Đông y đã lưu truyền bài thuốc từ  lá chè rất hiệu quả và dễ áp dụng, có thể uống hàng ngày thay trà dùng liên tục trong vòng 3 đên 5 ngày. Dùng lá chè, bột sơn trà, đường đỏ mỗi thứ 10g, sau đó cho vào nồi đổ nước sôi vào hãm khoảng 20 phút là uống được.

2. Chữa cảm sốt

Với tác dụng giải nhiệt, diệt khuẩn thì lá chè có tác dụng trong viêc chữa cảm sốt rất tốt. Trong trường hợp cảm sốt, ho có đờm vàng, đau họng thì dùng 3g lá chè, 1g muối ăn hãm nước sối uống 4-6 lần một ngày. Còn nếu cảm sốt đi kèm triệu chứng sợ lạnh, ho có đờn trắng dùng 3g lá chè, 3 miếng gừng đem hãm với nước sôi uống.

3. Hỗ trợ điều trị viêm lợi

Với tác dụng diệt khuẩn, kháng viêm và thanh nhiệt bài thuốc này được Đông y sử dụng trong việc điều trị viêm lợi rất tốt.  Lá chè 30g, rau rệu phơi khô 50g, rau má 30g, lá đinh lăng 30g. Sắc nước uống trong ngày. Bệnh nhân nên dùng liên tục từ 3 đến 5 ngày. Ngoài ra thì hàng ngày bạn nên súc miệng bằng nước chè sẽ có tác dụng trị chứng nhiệt miệng rất hiệu quả.

4. Chữa bỏng nhẹ

Lấy một nắm lá chè sắc nước đặc, để nguội ngâm vết bỏng hoặc dùng vải mỏng nhúng vào nước chè nguội rồi đắp vào chỗ bỏng, mỗi lần 10 – 15 phút, ngày làm 2-3 lần sẽ làm dịu đau, tránh phồng da, chóng lên da non.

5. Nước ăn chân

Nước ăn chân thường làm cho các kẽ chân chúng ta bị tổn thương và gây ra triệu chứng rát, ngứa. Bạn nên dùng lá chè già khoảng 400g cùng với 60g phèn chua sắc lấy nước đặc sau đó bôi vào vùng bị nước ăn, ngày bôi 2-3 lần cho đến khi khỏi.

6. Da bị nẻ

Da bị nẻ làm cho bạn cảm thấy khó chịu, khô ráp. Đặc biệt vào mùa đông thì triệu chứng da bị nẻ xuất hiện càng nhiều. Đặc biệt chị em phụ nữ sẽ cảm thấy măt tự tin với làn da khô nẻ của mình. Để khắc phục nhược điểm trên, Đông y có bài thuốc từ lá chè như sau: trước khi đi ngủ lấy một nhùm chè, nhai nát, nhuyễn sau đó đắp vào chỗ nẻ rồi lấy băng buộc vào sáng hôm sau thì bỏ ra.

Ngoài ra để chị em có vùng kín sạch sẽ, ngăn ngừa viêm nhiễm vùng kín thì chị em có thể dùng nước chè để rửa vệ sinh vùng kín sẽ rất hiệu quả.

Cây dướng - bổ thận tráng dương

Cây dướng mọc hoang khắp nơi ở miền Bắc đất nước ta. Cây dướng có tên khoa học Broussonedia papyrifera (L) Vent. thuộc họ dâu tằm (Moraceae)

Nhiều bộ phận của cây dướng được dùng làm thuốc phòng chữa bệnh đặc biệt nhóm bệnh thận của Đông y. Sau khi hái quả về ngâm nước 3 ngày, quấy lên, vứt bỏ quả nổi, sau đó phơi khô, ngâm với rượu một lúc rồi nấu. Nấu xong phơi khô dùng dần. Quả dướng Đông y gọi là chử thực tử. Vào 2 kinh: tâm, tỳ. Có vị ngọt, mát, thanh can, bổ thận, mạnh gân cốt, sáng mắt. Dùng tốt cho người có tuổi. Liều dùng hằng ngày 8-10g quả chín phơi âm can hay sấy khô ngâm rượu uống. Có nơi dùng nấu nước chè, cháo, cao..

Một số cách dùng cây dướng chữa bệnh

Bổ thận tráng dương: có thể ngâm rượu. Thường được phối hợp thêm các vị thuốc bổ thận khác như đỗ trọng, câu kỷ tử, ngưu tất, ngũ vị tử, ba kích, hà thủ ô...

Già yếu, tiểu nhiều, chân phù: quả dướng 12g, phục linh 10g, đỗ trọng 10g, câu kỷ tử 10g, ngưu tất 8g, tiểu hồi hương 3g, bạch truật 10g. Nước 3 bát sắc còn 1 bát. Uống ngày 3 lần trước bữa ăn 30 phút.

Lưng gối mỏi, nóng trong xương, sưng mộng răng: quả dướng 9-15g. Sắc uống.

Đau nhức cơ xương khớp: lá dướng bánh tẻ tươi ăn như món rau hằng ngày.

Lợi tiểu tiêu phù: lá dướng nấu lấy nước đặc cô thành cao. Mỗi lần uống một chén nhỏ hòa với nước ấm, uống vào lúc đói. Ngày 3 lần.

Chữa đái đục:
lá dướng sấy khô, tán bột luyện hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm (Namdược thần hiệu).

Phù toàn thân: vỏ thân cây dướng cạo bỏ lớp bẩn bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Khi dùng lấy 12g dược liệu phối hợp mộc thông 12g, phục linh 12g, vỏ rễ dâu 4g, vỏ quýt khô 4g, gừng 3 lát. Sắc với 400ml nước còn 100ml. Chia 2 lần uống trong ngày (Namdược thần hiệu).

Gan nóng sinh mắt vàng: quả dướng nghiền, lọc lấy nước, uống sau bữa ăn.

Mắt mờ, nhức mỏi: quả dướng 500g, hoa kinh giới 500g, nghiền nhỏ hoàn mật bằng đầu ngón tay trỏ. Uống mỗi lần 1 viên với nước sắc lá bạc hà loãng.

Kinh nguyệt không đều và kéo dài:
vỏ dướng 8-10g sao cháy. Uống với nước hòa ít rượu. Chia 2 lần uống.

Kiết lỵ: lá dướng tươi (bánh tẻ) 20g, rửa sạch giã nhỏ thêm nước gạn lấy 10ml, thân rễ seo gà 20g, thái nhỏ sắc với 200ml nước còn 50ml. Trộn 2 nước (lá và rễ) uống làm một lần trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Chữa mụn nhọt, vết ong đốt: lấy lá, quả dướng tươi giã đắp hoặc lấy nhựa lá để bôi.

Chảy máu cam: lá dướng tươi giã vắt lấy nước uống trong ngày.

Bị đâm chém chảy máu: quả dướng giã đắp.

Thổ huyết, tử cung xuất huyết: lá dướng tươi 50-100g giã vắt lấy nước uống.

Nhiễm nấm, hắc lào, lang ben, chàm: lấy mủ nhựa để bôi (tránh vùng mắt) hoặc giã nhuyễn lá, quả để bôi đắp. Lở ngứa ghẻ đun nước các bộ phận của cây dướng (tươi tốt hơn khô) để tắm, rửa, ngâm…

Cảm sốt: lá dướng nấu để xông.

Trẻ em táo bón: Để nhuận tràng cho trẻ lấy lá non bánh tẻ nấu canh cho trẻ ăn hoặc quả chín nấu nước uống.

Liên hệ mua hàng

Điện thoại: 0394969435

Fax: 0394969435

Thống kê truy cập

223391
Hôm nayHôm nay48
Hôm quaHôm qua59
TuầnTuần398
ThángTháng1708
TổngTổng223391
DEBUG
Time:[0.034458160400391sec]

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries