Động vật làm thuốc

Bài thuốc hay từ giun đất

Giun đất còn gọi là trùn đất hoặc Địa long, tên khoa học Pheretima asiatica Michaelsen, thuộc họ Cự dẫn MEGASCOLECIDAE.  Giun đất làm thuốc là toàn thân của con giun hoặc chỉ là phần thân sau khi đã rạch bỏ đất trong ruột và phơi, sấy khô.  Giun đất có nhiều chi, loại giun làm thuốc là loại giun to, thường được gọi là trùn hổ. Trùn hổ có thân dài từ 10 đến 38cm, lớn từ 5 đến 12 mm. Giun đất bắt về được rửa sạch nhớt bằng tro và nước nóng, rạch bụng, rửa sạch đất, cát và phơi hoặc sấy khô để dùng.  Giun sấy khô làm thuốc có bán sẵn ở các hiệu thuốc Nam hoặc Bắc.

Giun đất chữa sốt xuất huyết.

Theo Y học cổ truyền, giun đất có vị mặn, tính hàn, không độc, vào các kinh Tỳ, Phế, Can, Thận, có tác dụng thanh nhiệt, giáng khí, trấn kinh, lợi tiểu, giải độc, phá ứ huyết.

Tác dụng thanh nhiệt trấn kinh của giun đất đặc biệt hữu dụng trong mọi trường hợp sốt cao dẫn đến hôn mê, co giật như sốt xuất huyết (SXH), sốt rét, viêm màng não, tai biến mạch não.  Tác giả còn nhớ một trường hợp chữa SXH khá đặc biệt khoảng hơn chục năm về trước.  Đó là dạo ở địa phương đang xảy ra một trận dịch sốt xuất huyết.  Cô N., một người mẹ trẻ gần nhà có một đứa con 3 tuổi bị SXH đang nằm điều trị ở Bệnh viện Nhi của tỉnh.  Hôm đó, lúc về nhà để lấy thêm quần áo trước khi vào lại Bệnh viện để trực chăm sóc đứa bé, cô ghé thăm và kể lể sự tình trong nước mắt.  Đã mấy ngày trôi qua mà cháu bé vẫn không hạ được sốt.  Nhìn cảnh nhiều đứa trẻ ở những giường chung quanh đã bất hạnh ra đi, cô không nghĩ con mình sẽ qua khỏi.  Còn nước còn tát. Tôi đã cho cô 10 con giun đất phơi khô có sẵn với lời dặn rửa sơ qua, đổ ít nước, cho thêm vài hạt gạo rang, nấu cô lại như nước cháo và đổ cho cháu uống.  Tôi giải thích thêm, ngoài tác dụng hạ sốt, chống làm kinh, giun đất có hàm lượng đạm động vật rất cao, vốn dĩ là một vị thuốc chữa suy dinh dưỡng trẻ em. Do đó, uống nước cháo giun sẽ không có hại gì.  Như một cái phao cứu sinh cuối cùng để bám lấy, cô đã làm theo lời dặn.  Đứa bé hạ sốt nhanh chóng.  Ba ngày sau, đứa bé được xuất viện trước sự ngạc nhiên của những người xung quanh.  Cô không dám nói gì về việc đã cho uống giun đất, vì có nói chưa chắc đã có ai tin.

Theo các nhà khoa học Trung Quốc, bột giun đất có tác dụng hạ sốt.  Đối với sốt do cảm nhiễm, cho uống 0,3g thuốc có tác dụng giảm sốt.  Tác dụng xuất hiện sau nửa giờ đến 3 giờ.  Năm 1915, Điền Trung và Ngạch Điền, 2 nhà nghiên cứu người Nhật, qua thí nghiệm trên súc vật đã xác định được hoạt chất làm hạ sốt trong giun đất là Lumbrifebrin.  Theo tài liệu và kinh nghiệm của Lương y Nguyễn An Định,  những trường hợp sốt cao, hôn mê, giun đất có tác dụng hữu hiệu trong vòng từ 63 đến 65 phút!  Năm 1969, nguyên Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Văn Hưởng đã từng cho phổ biến bài thuốc “Thần Dược Cứu Mệnh” do ông Đinh đề xuất mà vị chủ dược là giun đất để kiểm soát thành công dịch SXH ở nhiều tỉnh thành miền Bắc lúc bấy giờ.  Sau đó, trong thơ mời ông Định đến dự hội nghị tổng kết công tác chống dịch SXH do Sở Y Tế Hà Nội tổ chức có ghi “Nói chung, thuốc Nam trị bệnh này đạt hiệu quả rõ ràng và nhanh chóng hơn Tây y. Tuy nhiên, trong khi những bệnh nhân dùng những bài thuốc khác vẫn có trường hợp tử vong, duy có bài giun đất của đồng chí là cứu sống 100%, không có ca tử vong nào”.

Thuốc đặc hiệu chống đột quỵ, 20 triệu và 20 ngàn!

Tai biến mạch não, còn gọi là đột quỵ, dẫn đến tử vong hoặc tàn phế là nỗi ám ảnh của nhiều người. Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới cho biết cứ mỗi 6 giây có một người bị đột quỵ.  Khoảng 80% đột quỵ là do nhũn não, nghẽn mạch máu não.  Số còn lại là do xuất huyết não.  Hiện nay, theo số liệu của Hiệp hội Nhận thức về Đột quỵ (Stroke Awareness Foundation) ở Mỹ, trong khi điều trị nội khoa bằng thuốc tPA (Tissue Plasminogen Activator) để làm tan sợi huyết vẫn là biện pháp điều trị đặc hiệu đối với những trường hợp nghẽn mạch máu não thì mới  có chưa đến 2% số bệnh nhân được sử dụng thuốc này. Có nhiều lý do, hoặc chẩn đoán sai, hoặc không được chuyển đến cơ sở chuyên môn chống đột quỵ trong vòng 3 giờ đầu tiên hoặc sự cẩn trọng cần thiết để tránh gia tăng sự xuất huyết.  Là một loại thuốc đặc trị lại quá đắt (tại Việt Nam  một liều gần 20 triệu đồng), nên không có sẵn ở những cơ sở đa khoa thông thường cũng có thể là một lý do.  Trong khi đó, từ lâu y học cổ truyền đã có kinh nghiệm dùng giun đất để làm tan ứ huyết trong các chứng tai biến về não.  Cổ phương “Bổ dương hoàn ngũ thang” chuyên chữa các trường hợp trúng phong, tai biến mạch não bao gồm Địa long, Đương quy, Xuyên khung, Hồng hoa, Hoàng kỳ, Xích thược và Đào nhân là một ví dụ.  Ngày nay, nhiều phương dược kinh nghiệm chữa trúng phong, tai biến mạch não ở Trung Quốc như Địa long Đan sâm thang, Đào Hồng thông mạch phương, Thông mạch sơ lạc phương cũng có sử dụng vị Địa long.

Từ năm 1911, các nhà khoa học người Nhật đã tìm được hoạt chất Lumbritin trong giun đất có tác dụng phá ứ huyết.  Gần đây, tại Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn thị Ngọc Dao cũng đã công bố công trình nghiên cứu về giun quế và cho biết các loại giun đều có chứa enzym fibrinolytic - một loại protein trong máu - có tác dụng làm tan các cục máu đông trong các chứng đột quỵ.  Ngoài ra, với tính hàn và các tác dụng lợi tiểu, giáng khí, hạ huyết áp,giun đất có thể giúp chỉ huyết, không sợ làm tăng tình trạng xuất huyết nên còn sử dụng được trong các các chứng đột quỵ do xuất huyết não trong khi tPA bị chống chỉ định trong những trường hợp này.  Đặc biệt giun đất còn có thành phần của nhiều loại axít amin khác nhau như Alanin, Valin, Leucin, Phenyllalanin, Tyrosin, Lysin...  giúp nuôi dưỡng tế bào thần kinh và cải thiện hoạt động của não bộ. Có lẽ do tập hợp được nhiều tính năng, giun đất phục hồi được nhiều trường hợp đột quỵ đã hôn mê sau nhiều ngày, kể cả việc cải thiện  suy giảm trí nhớ, nhận thức trong nhiều trường hợp.

Trở lại bài “Thần dược cứu mệnh”. Toa thuốc và tên của bài thuốc này đã xuất hiện từ đầu thế kỷ trước, được in lại trong quyển sách Hai trăm bài thuốc quý” của ông Lê văn Tình vào năm 1940 với ghi chú là “chủ trị làm ban, ôn dịch và các bệnh nan y, công hiệu như thần , bệnh lui sau 60 phút”.Trong một loạt bài viết được phổ biến trên báo Long An vào năm 1997, ông Định có viết “các dạng hôn mê do sốt xuất huyết hoặc tai biến mạch máu não chưa quá 10 ngày chỉ cần 3 thang, có khi chỉ 1 thang cũng hết bệnh”. Bài thuốc nguyên thuỷ gồm 3 vị:  Giun đất  phơi khô 50g, Đậu đen 100g, Lá bồ ngót phơi khô, sao qua 200g.  Dùng 4 chén nước, sắc còn hơn nửa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống hoặc đổ vào miệng nếu đã bất tỉnh.  Tính thành tiền, toa thuốc chưa đến 20 ngàn đồng.  Trên thực tế, nhiều người đã được chữa khỏi nhờ bài thuốc này, chủ yếu là vị giun đất.  Không có thống kê nào cho biết con số là bao nhiêu. Tuy nhiên nếu tính trên phạm vi rộng, e rằng tỷ lệ còn thấp hơn cả số người được sử dụng tPA.  Hai chục ngàn  so với hai mươi triệu mà vẫn khó đến được với người bệnh.  Đáng buồn thay, điệu buồn … thuốc Nam!B

Dế mèn - vị thuốc trị thông tiểu

Dế mèn thuộc loại côn trùng cánh thẳng mình dài hơn 2,5 cm có sắc đen nâu, đầu to, xúc giác nhỏ mà dài, chi to sau dài, nhảy rất giỏi, có hai lông đuôi. Con đực mình nhỏ, cánh trước có mạch dạng sóng, thường dùng 2 cánh cọ xát mà đánh tiếng, hay đánh nhau. Con cái mình to, chi trước có mạch dạng lưới, phần cuối bụng có ống đẻ trứng, đầu thu đẻ trứng, chủng loại tương đối nhiều, là loại sâu có hại cho cỏ cây. Nên bắt cả đôi cái và đực để làm thuốc.
Dế mèn cay, mặn, ấm, không độc. Chủ trị thông tiểu tiện, phát mọc đậu sương, giải độc trùng.
Công dụng
1) Trị trẻ em đái dầm, đái sót.
Dế mèn 1 con, sấy, nghiền nhỏ uống tuỳ theo tuổi: 11 tuổi mỗi lần uống 1 con uống đến 11 con thì thôi.
2) Đái không thông đầy, trướng
Dế mèn 1 con, sấy khô, nghiền nhỏ, uống với nước nóng. Trẻ con uống nửa con là thông.
3) Thúc đẻ, không đẻ ngang đẻ ngược
Khi chơi đấu dế con nào thắng gọi là tướng quân Chớ coi thường vứt bỏ mà giữ lấy mà cứu đẻ rất hiệu nghiệm. Phàm đẻ không ra, dùng Dế khô 1 con, sắc nước uống là đẻ ngay và không lo đẻ ngang đẻ ngược nữa.
4) Trị bệnh Thuỷ trùng (1 loại trùng tích trong ruột khó trị). Xưa có người bị thuỷ trùng, uống trăm thứ thuốc không khỏi. Một hôm ngẫu nhiên uống nước, trong nước có đôi Dế mèn, vì vội vã không biết mà nuốt đi, qua vài ngày bệnh dần khỏi. 
Dùng 1 đôi Dế mèn uống, chưa khỏi dùng tiếp 2 – 3 đôi thì khỏi.

Bọ hung nhỏ bé có công dụng phi thường

Đông y gọi con bọ hung là Khương lang. Bọ hung có cánh cứng dài khoảng 2cm. Thân đen, trán dô, mắt sâu, râu đỏ nâu. Trước ngực và trên lưng có rãnh sâu, màu tro. Bọ hung hay ăn phân người hoặc phân động vật, ngày nằm trong đất, đêm thấy đèn lửa thì bay ra. Khi gặp điều gì gây kinh sợ thì co chân cúi đầu, giả vờ chết rồi từ từ bay đi. Nên bắt bọ hung vào ngày mồng năm tháng năm (5/5) đem về đồ chín rồi phơi khô cất đi, khi dùng bỏ chân, nướng lửa hoặc sấy khô tán nhỏ, cất dùng dần.

Tính chất: mặn, lạnh, có độc.

Công dụng: Làm tan các ứ kết, trị trẻ con động kinh, kinh sợ.

Chủ trị: trẻ con co giật bụng trướng lúc nóng, lúc lạnh, chân tay phù nề, trong bụng có tích khối. Trong “Lĩnh nam bản thảo” của Lãn Ông có ghi:

“Khương lang tục gọi con bọ hung

Mặn, bình, có độc mạnh vô cùng

Chữa giản, điên cuồng, tên thuốc độc

Mụn nhọt, bí tiện với trường phong”

Đời Minh (1368 - 1644), Lý Thời Trân dùng chữa đại tiểu tiện không thông, đi lỵ ra máu mủi, trị lòi dom, các loại trĩ dò đinh sưng, políp trong mũi, trẻ con trùng thiệt, nhọt độc. Bọ hung bẩm thụ khí ẩm thấp, vị mặn tính lạnh nên trừ tà nhiệt ở 3 kinh can, vị, đại tràng. Xưa nay các phương thư thường dùng bọ hung trị các loại trĩ dò, nhọt sưng, lở loét có hiệu quả, lại còn hút tên bắn ra ngoài. Người hư yếu không nên dùng.

Bài thuốc :

  • Trẻ con kinh phong (cả cấp và mạn kinh): Bọ hung 1 con giã nát lấy một chén nhỏ nước đun kỹ, bỏ bã, uống nóng.
  • Trẻ con bị bệnh cam: Bọ hung đang ở trong đất, lấy nướng chín cho trẻ ăn.
  • Trẻ bị trùng thiệt (lưỡi sưng to như có hai lưỡi, bệnh nguy): Bọ hung sao, nghiền nhỏ, hoà với nước dãi của bản thân bệnh nhân rồi bôi trên lưỡi.
  • Đi lỵ ra máu mũi: Bọ hung sao 1 con, nghiền nhỏ, mỗi lần uống từ 2-3g với rượu nóng. Trẻ con thì uống với nước nóng.
  • Lòi dom: Bọ hung 1-2  con sao tồn tính, nghiền nhỏ cho vào một ít băng phiến trộn đều rồi thấm chỗ lòi dom ấn vào.
  • Đại tiểu tiện không thông: Tháng 6-7 tìm 10 con bọ hung to lấy dây xâu lại rồi phơi trong râm cho khô, cất đi, lúc dùng lấy 1 con để trên viên ngói mới, phủ kín tro lửa nướng khô, rồi cắt đôi đúng eo lưng bọ hung. Nếu đại tiện không thông thì dùng nửa trên từ eo lưng đến đầu; nếu tiểu tiện không thông thì dùng nửa dưới, nghiền nhỏ múc nước giếng mà uống. Nếu đại tiểu tiện đều bí thì dùng cả con, liền khỏi.
  • Đại tràng bế tắc: Bọ hung sao, bỏ chân cánh 4 gam, nghiền nhỏ uống với rượu ấm.
  • Đàn bà chuyển dạ đẻ mà tiểu tiện không thông: Bọ hung chết 2 con, sao, nghiền nhỏ uống với nước giếng ban mai.
  • Đái ra máu dầm dề (huyết lâm): Bọ hung 2 con sấy hoặc phơi khô nghiền nhỏ uống với nước nguội.
  • Trĩ lậu ra nước: Bọ hung 1 con phơi trong râm cho khô, cho một chút băng phiến, nghiền nhỏ, lấy ống giấy thổi thuốc vào chỗ trĩ lậu, dần dần tự sinh ra thịt mà khỏi. Hoặc lấy phèn chua rửa chỗ đau, đắp bột trên vào.
  • Lở loét máu chảy không ngừng. Bọ hung chết 1 - 2 con, sao nghiền nhỏ hoà mỡ lợn đắp vào.
  • Đinh sang nhọt độc: Lấy ruột bọ hung, ở dưới bụng thịt hơi trắng là phải, đắp lên đinh sang, nhọt, nửa ngày lại thay, khi máu và ngòi ra là khỏi.

Nhện ôm trứng trị mụn nhọt

Theo Đông dược, nhện ôm trứng vị mặn, tính bình, có công dụng giải độc, chỉ huyết, được dùng để chữa các chứng hầu tý (viêm amidan), cam răng, chảy máu cam, trĩ lở chảy máu, nhọt chảy nước vàng, xuất huyết... Ngoài ra, bao trứng nhện (bích tiền mạc) cũng được dùng để làm thuốc. Trong sách Lĩnh Nam bản thảo, Hải Thượng Lãn Ông đã viết: "Bích tiền tên gọi bao trứng nhện; Tính mát, không độc, trẻ em cam mũi, vết đao thương; Ung thư, đau họng, chữa rất nghiệm".



Dưới đây là một số cách trị bệnh cổ truyền từ các loại nhện này:

Trị viêm amiđan: Dùng 10 con nhện ôm trứng sấy khô tán bột, thổi vào họng.

Trị trẻ em trướng bụng:
Dùng 5 con nhện ôm trứng giã nát rồi đem tráng với trứng gà ăn mỗi ngày 1 lần, chừng 2 - 3 lần là hiệu nghiệm.

Trị trẻ em cứng hàm không bú được: Dùng 2 con nhện ôm trứng vứt bỏ chân, sao cháy, nghiền nhỏ hòa với sữa uống.

Trị bị mụn nhọt: Lấy nhện ôm trứng sống giã nát đắp vào tổn thương.

Trị bí đái: Dùng nhện ôm trứng với lượng vừa đủ, giã nát với 1 củ hành đắp lên vùng bàng quang.

Trị trĩ sưng đau: Dùng 1 con nhện ôm trứng to và 12g kim ngân hoa, hai thứ bọc đất sét nung chín, lấy ra nghiền nhỏ đắp vào búi trĩ.

Bao trứng nhện
(bích tiền mạc) dùng để làm thuốc chữa các bệnh:

Chữa trị chứng nhũ nga (áp-xe vú): Dùng bao trứng nhện 3 cái sao tồn tính, 3g bạch phàn, hai thứ tán bột uống.

Trị vết thương chảy máu:
Dùng bao tổ nhện dán vào nơi chảy máu.

Trị ho cho phụ nữ
(sau sinh ít lâu bị ho): Dùng 5 – 6 bao tổ nhện sắc kỹ lấy nước cốt hớp một chút.

Cá diếc có thể làm thuốc chữa bệnh, bạn biết chưa?

Cá nước ngọt có nhiều loại được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh, trong đó có cá diếc  đã được đông y dùng từ rất lâu đời với tên thuốc là tức ngư. Cá diếc có tên khoa học là Carassus auratus L. Theo đông y thì cá diếc có vị ngọt nhạt, tính ấm, không độc. Tác dụng bổ tỳ, vị, hành thủy, tiêu thũng, chỉ khát, làm se, sát khuẩn, nên được sử dụng trị liệu nhiều chứng bệnh khác nhau như sau.

* Chữa buồn nôn, nôn mửa: Cá diếc 1 con 250g, làm sạch, trộn với sa nhân 3g, gừng sống 3g, hồ tiêu khô 3g, tán nhỏ cho vào 400ml nước sắc lấy 100ml, chia làm 2 lần uống trong ngày.

* Chữa đái tháo, khát nước nhiều: Cá diếc 1 con, làm sạch sau nhét lá chè non vào bụng, bọc giấy nhiều lần quanh cá, đem đốt chín cá, tán nhỏ chia ra làm nhiều lần uống trong ngày với nước ấm.

* Chữa viêm phế quản mạn: Thịt cá diếc sấy khô, tán bột. Củ bán hạ rửa sạch đồ chín, ngâm vào nước gừng và nước phèn chua trong 24 giờ (theo tỷ lệ cứ 1kg củ bán hạ thì sử dụng 300g gừng tươi giã nát và 50g phèn chua tán nhỏ, đổ nước ngập sâm sấp mà ngâm), sau lấy ra phơi khô, thái mỏng rồi lại tẩm nước cam thảo và sao vàng, tán bột. Gừng khô cũng tán bột mịn. Sau cùng lấy 50g bột cá diếc trộn với 3g bột củ bán hạ cùng 3g bột gừng khô, cho người bệnh uống với nước ấm mỗi lần uống trong ngày.

* Chữa phù ở trẻ em, kiết lỵ đi ra máu: Cá diếc 1 con làm sạch, phèn chua 1 cục nhỏ phi tán bột, cho vào bụng cá, sau đốt cháy tồn tính tức là đốt không để cá cháy thành than hoàn toàn rồi đem tán bột mịn, ngày uống 10g chia 2 lần, mỗi lần uống 5g, chiêu với nước ấm.

* Chữa viêm đại tràng mạn: Cháo cá diếc có tác dụng ích khí kiện tỳ, rất phù hợp sử dụng cho người mắc chứng viêm đại tràng mạn. Cá diếc 1 con khoảng 250 – 300g, gạo tẻ 50g. Làm sạch cá cho vào nồi hầm kỹ lấy nước cho gạo vào nấu thành cháo nhừ mới cho cá vào nêm gia vị vừa miệng, ăn nóng.

* Chữa đau gan vàng da: Cá diếc 1 con làm sạch, nướng qua, sau cho rau má, lá mơ nấu ăn trong ngày. Cần ăn thường xuyên.

* Chữa biếng ăn ở trẻ: Cá diếc 1 con, làm sạch, nướng qua, cho rau rút vào nấu, ăn nhiều ngày.

* Làm tiêu thũng: Cá diếc 1 con cũng làm sạch và nướng qua, sau cho đậu đỏ hoặc vỏ bí đao vào nấu cùng, ăn cái uống nước trong ngày. Cần ăn vài ngày.

* Làm tăng sữa: Cá diếc nấu với nấm hương ăn nhiều ngày.

* Làm ấm bụng, hạ khí: Cá diếc nấu với ngũ vị tử ăn vài ngày.

* Chữa thủy thũng, trướng bụng: Cá diếc 1 con, đậu đỏ 15 – 20g, rễ thương lục 15 – 20g, nấu nhừ ăn cái uống nước.

* Bổ huyết và dưỡng da: Lấy cá diếc 1 con, câu kỷ tử 10 – 12g, hoàng kỳ 12g, gừng sống 3g, hành, giấm, đường, hồ tiêu, rượu vang. Nấu làm món ăn bổ huyết làm da hồng hào tươi mát.

* Chữa viêm loét dạ dày: Bong bóng cá diếc rửa sạch rán giòn bằng dầu vừng tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 – 6g, chiêu với nước ấm.

* Bình can, hạ huyết áp: Cá diếc 200g, đánh vảy, bỏ mang, ruột, rửa sạch, sau lấy 10g dầu ăn, rượu trắng 10g, và ít muối thoa lên mình cá rồi cho vào nồi và đổ vào 500ml nước dung gà, gừng sống 5g đập dập, hành 5g thái nhỏ, bột mẫu lệ 12g. Nấu sôi cho đậu phụ 200g đã thái miếng, sau đó đun nhỏ lửa tới nhừ thì cho 100g lá rau cải xanh đã thái nhỏ vào là được. Ăn 1 lần trong ngày, ăn cả cái lẫn nước. Cần ăn một thời gian.

* Chữa bệnh xuất huyết: Dùng vảy cá diếc nấu thành cao uống mỗi ngày một lần 30g chiêu với rượu hâm nóng.

* Chữa chốc lở: Lấy cá diếc đốt thành than, tán bột trộn với dầu vừng bôi lên nơi chốc lở hàng ngày.

* Chữa viêm túi mật: Lấy mật cá diếc (tức ngư đảm) 5 – 10 giọt uống với rượu.

* Chữa sa dạ con: Mật cá diếc 1 cái đốt thành than, tán nhỏ trộn với dầu vừng. Hàng ngày lấy bôi lên dạ con sau khi đã được rửa sạch bằng nước ngâm tỏi.

Những bài thuốc hay từ ngỗng

Ngỗng còn gọi là nga nhục, là loại thủy cầm được nuôi rất nhiều ở nước ta. Từ thịt ngỗng chế biến nhiều món ăn ngon như ngỗng quay, ngỗng tẩm bột, ngỗng xào lăn, ngỗng nướng, ngỗng hấp... mỗi món có hương vị riêng và hấp dẫn. Thành phần dinh dưỡng: có protein, lipid, các hợp chất carbon, nguyên tố Ca, P, Fe, vitamin C. Các bộ phận của ngỗng như thịt ngỗng, mật, trứng, lông, tiết ngỗng đều được dùng làm thuốc trong Đông y

Theo Đông y, thịt ngỗng kiện tỳ hoà vị bổ hư, chỉ khát. Dùng cho các trường hợp gầy còm, mỏi mệt, suy nhược cơ thể, tiểu đường. Mật ngỗng thanh nhiệt giải độc; trứng ngỗng bổ trung ích khí; lông và màng da chữa bệnh ngoài da, vỏ trứng trị mụn nhọt…
Thịt ngỗng hầm hoàng kỳ, đẳng sâm tốt cho người tỳ vị hư nhược, kém ăn, mệt mỏi.

Các bài thuốc có dùng ngỗng

- Trị ung nhọt: lông ngỗng sao cháy 40g, phèn chua 80g. Nghiền nhỏ, dùng nước cơm làm thành viên. Mỗi lần 8g, uống với nước có cồn (rượu loãng). Hoặc lông ngỗng sao tồn tính 40g, hùng hoàng 12g, xuyên ô 6g, thảo ô 6g, sáp ong vừa đủ. Nghiền trộn lông ngỗng, hùng hoàng, xuyên ô, thảo ô thành bột mịn; trộn với sáp ong nóng chảy để làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, uống với rượu.

- Trị phong độc ngứa lở:
khổ sâm 600g, lông ngỗng 320g. Lông ngỗng sao tồn tính, trộn với khổ sâm khô, tán nhỏ. Dùng nước cơm làm hồ, viên bằng hạt ngô (3g). Lấy chu sa làm áo. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 - 10g, uống với rượu loãng. Chữa phong ngứa nổi khắp mình, nổi đỏ, gãi ngứa khác thường, chân tay đau nhức, da dẻ nứt nẻ.

- Giảm đau do bị va đập:
ống lông ngỗng có máu 7 cái, giun đất 7 con, nhũ hương 5g. Lông ngỗng sao cháy tồn tính, giun đất sao hoặc nướng giòn cùng với nhũ hương nghiền thành bột mịn, thêm ít sáp ong làm viên. Ngày uống 2 lần (sáng, tối); mỗi lần uống 4g với rượu loãng.

- Trị hạch ở cổ (loa lịch): Lấy tất cả lông, màng da chân và miệng, để lên miếng ngói đang nung đỏ cho cháy. Lấy than nghiền nhỏ chia làm 10 phần, mỗi phần uống trong ngày, uống sau bữa ăn.

Một số món ăn - bài thuốc có ngỗng:


-  Nước ép thịt ngỗng:
Thịt ngỗng cả con, làm sạch bỏ ruột, hầm nấu ép lấy nước. Dùng cho bệnh nhân tiểu đường.

- Ngỗng hầm bổ khí: ngỗng 1 con, hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 30g, sơn dược 30g. Ngỗng làm sạch bỏ ruột; cùng nấu dược liệu, thêm gia vị cho phù hợp. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn kém, mệt mỏi.

- Ngỗng hầm song bổ thang: thịt ngỗng 1 con, thịt lợn nạc 200g, sơn dược 20g, sa sâm 20g, ngọc trúc 20g. Cho vào nồi, thêm nước và gia vị vừa ăn, đun nhỏ lửa hầm nhừ. Bổ khí, bổ âm, dùng trong trường hợp miệng họng khô, khát nước, mệt mỏi, thở gấp, ho suyễn, ăn kém, tiểu đường...

Kiêng kỵ: Người đang có thấp nhiệt (viêm nhiễm khuẩn cấp tính) không dùng.

Công dụng của ốc sên hoa

Ốc sên hoa (Achatina fulica) là loài ốc lớn nhất trong họ ốc sên, sống ở trên cạn, nơi ẩm thấp, phổ biến trong các hốc cây, lùm bụi, nhất là ở hàng rào cây xương rồng ba cạnh. Đó là một động vật thân mềm (nhuyễn thể) có vỏ to, tháp có 5-6 vòng xoắn, vòng miệng phồng to và rộng.


Ốc sên hoa được dùng với tên thuốc là oa ngưu, có vị mặn, tính hàn, tươi nhầy, có tác dụng bổ dưỡng, giải độc, tiêu viêm, giảm đau, chống co thắt, lợi tiểu. Ốc sên hoa 1-2 con, lấy thịt giã nát thêm ít nước, phết lên giấy để chừa một lỗ nhỏ ở giữa, đắp chữa mụn lở mọc ở da mặt (Nam dược thần hiệu). Thịt ốc sên hoa và cùi quả ô mai lượng bằng nhau, giã nát, làm viên ngậm chữa cổ họng sưng đau, không nuốt được. Dịch ốc sên hoa đã thủy phân, đem cô đến khi đặc thành sản phẩm mang tên “đạm ốc sên” được dùng làm thuốc bổ dưỡng rất tốt.

Để chữa hen suyễn, thấp khớp, lấy ốc sên hoa 2 con làm thịt, nướng vàng, thái nhỏ, nấu lấy nước đặc. Măng tre 50g, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt. Trộn hai nước lại, uống làm 1-2 lần trong ngày. Dùng trong thời gian dài.

Nhớt ốc sên hoa là lớp chất nhầy bao bọc toàn thân ốc trong vỏ cũng được dùng làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian. Người ta lấy nhớt bằng cách bắt ốc sên hoa dùng khăn lau sạch đất dính ở miệng ốc, rồi dùng một que nhọn kích thích liên tục vào da thịt ốc, chất nhớt sẽ tiết ra rất nhiều. Lấy bông sạch quét nhớt mà dùng ngay, không để nhớt lưu cữu qua ngày. Nhớt ốc sên hoa được dùng bôi chữa rết cắn rất hay. Sở dĩ có tác dụng như vậy vì nhớt là một chất nhầy có phản ứng kiềm. Khi bôi lên vết rết cắn, chất nhày làm trung hòa tính acid của nọc rết, gây cảm giác mát dễ chịu, hết đau nhức.

Theo tài liệu nước ngoài, ở Pháp, người ta đã nuôi ốc sên hoa trên quy mô công nghiệp và chế biến thịt ốc thành một món ăn-vị thuốc được nhiều người ưa thích. Ở Trung Quốc, thịt ốc sên hoa phơi khô, mỗi lần dùng 15g, sao cháy, sắc nước uống ngày 3 lần liền trong 3-5 ngày, chữa kiết lỵ, tiêu chảy. Để chữa tràng nhạc, lấy thịt ốc sên hoa tươi 60g hoặc phơi khô 30g, thái nhỏ, nấu chín với thịt lợn nạc 100g, thêm gia vị ăn trong ngày.

 

Phương pháp sử dụng “bạch cương tàm” chữa đen sạm

Bạch cương tàm có tên gọi là Cương trùng, Thiên trùng, là con tằm nuôi bằng lá dâu bị bệnh chết do nhiễm khuẩn Botrytia basslana Bals được cho vào vôi sấy khô hoặc chết gió, không phải là con tằm chín sắp kéo kén.



Bạch cương tàm là hình con tằm cong queo, dài chừng 3,5cm, đường kính chứng 5mm, bề ngoài có màu trắng ngà hay màu nâu, bẩn, hơi lốm đốm trắng; chất cứng nhưng giòn, khi bẻ đôi, vết bẻ có màu xanh, mùi hôi khẳm, có vị hơi đắng.
Bạch cương tàm có vị mặn, cay, tính bình, không độc vào kinh tâm, tỳ và phế có tác dụng khử phong hoá đờm, những người huyết hư không phải phong tà không dùng được.

Chữa những bệnh thường gặp ở trẻ
Theo tài liệu cổ, Bạch cương tàm dùng để chữa những bệnh kinh giảm, co giật của trẻ em, trẻ hay khóc đêm, bị cảm mất tiếng, xuất huyết não, cổ họng sưng đau…
Liều dùng trong ngày từ 4-8g, sao vàng sắc uống hay tán bột đem dùng, trẻ em mỗi lần uống từ 0,5g hoặc 1 thìa canh mỗi ngày uống 3 lần sáng, trưa và tối.

Chữa đau dạ dày
Những người đau dạ dày có thể dùng ngay con tằm ăn lá dâu ở thời kỳ sắp làm tổ để chữa bệnh.
Cách làm: Dùng 1-2kg con tằm bỏ vào rá tre rồi đổ nước sôi khoảng 55-60oC, để vô trùng, khi ráo nước đổ vào giấy bản đặt trên tờ báo đến khi khô gắp bỏ vào vại sành hay lọ thuỷ tinh cùng 0,5-1 lít Mật ong tốt, 0,5-1 lít rượu nếp nồng độ nhẹ, đem bịt kín để từ 1-2 tháng, dùng hàng ngày, mỗi lần uống 1 chén. Ngoài giảm hẳn cơn đau, người bệnh còn bớt hẳn 2 – 3 năm sau khi uống.
Nếu không ngâm thì bỏ tằm vào chảo gang sao vàng tán bột bỏ lọ, dùng hàng ngày kèm với Mật ong, mỗi ngày dùng 4 – 8g chia làm 2 – 3 lần uống.

Chữa thiên đầu thống 
Bạch cương tàm sao, tán nhỏ hoà với nước chè xanh hoặc uống cùng với nước Hành, chia làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần 1-2g đối với người lớn.

Chữa mặt đen sạm
Dùng bột tán nhỏ của Bạch cương tàm hoà với nước bôi vào nhiều lần vết sạm sẽ mất.

Chữa viêm amiđan cấp tính
Bạch cương tàm 10g, phèn chua 5g, phèn đen 5g trộn đều tán mịn bỏ lọ sành hay thuỷ tinh có màu vàng lục. Mỗi khi dùng lấy lá Bạc hà 5g, Sinh khương 5g sắc với ít nước hoà vào 2g bột Bạch cương tàm, đưa vào cổ họng cho nôn ra nhiều đờm.

Công dụng trị bệnh của bò cạp. Nhiều vô số!

Bọ cạp có lớp vỏ cứng nên thuộc loại Giáp xác (Crustaceae) như tôm, cua nhưng cua có 10 chân (decapoda) còn Bọ cạp chỉ có 8 chân nên xếp vào loại nhện (Arachnides); Ve sầu có 6 chân (hexapoda) thì thuộc loại Sâu bọ (Insecta). 

Bọ cạp được xếp vào họ Bọ cạp Buthidae. Người ta dùng Bọ cạp rừng dài tới 12cm (tên khoa học là Pelamneus silenus) hoặc Bọ cạp nhỏ chỉ dài 5-6cm (tên khoa học là Archisometrus mucronatus). Trong Y học cổ truyền người ta thường dùng loại Buthus martensii Karsch dưới tên là Toàn yết. Có khi người ta chỉ dùng phần đuôi của nó làm thuốc  với tên là Yết vĩ. Bọ cạp mà tôi thấy ở Kiến An chỉ đo được 7cm nên gần loài Bọ cạp nhỏ Archisometrus mucronatus.

Bọ cạp ưa sống ở nơi nóng và ẩm. Ban ngày, chúng ẩn náu dưới lá mục , gốc cây, đêm tối chúng mới đi kiếm mồi. Mồi là các động vật nhỏ như sâu bọ, nhện.

Bọ cạp được ghi vào Dược điển Việt Nam 1983.

Tác dụng: Theo Đông y, Toàn yết vị mặn, hơi cay, tính bình, có độc, vào kinh can.  Có tác dụng trừ phong, trấn kinh.  Dùng chữa các chứng bệnh: kinh giản, co giật, méo miệng, xếch mắt, bán thân bất toại, sài uốn ván.

Liều dùng: Toàn yết khoảng 1-4 con, Yết vĩ (đuôi riêng): khoảng 3-8 cái.  Thường dùng chế thành thuốc viên uống.

Chú ý:

- Phần đầu – ngực của Bọ cạp có giáp cứng ở mặt lưng, mang 4 đôi chân Nó thường dùng 2 cái càng để bắt mồi rồi cong đuôi về phía trước, dùng móc độc giết mồi.

- Cái móc nhọn có tuyến độc là cơ quan tự vệ để giết mồi hoặc tấn công kẻ thù. Trong Toàn yết có chứa chất độc Katsutoxin (còn gọi là Buthotoxin).  Độc tính của nó đối với thần kinh gần giống độc tính của nọc rắn. Ở Pháp, Anh đều gọi là Scorpion, Scorpion có thể làm chết người và gia súc.

- Người thiếu máu (huyết hư) mà sinh kinh phong thì không được dùng.

Tác dụng chữa bệnh thần kỳ từ ong mật

Càng ngày các nhà y học và nuôi ong càng phát hiện thêm những tính chất chữa bệnh quý báu của sản phẩm từ tổ ong: mật ong, sữa ong chúa, keo ong, nọc ong và phấn hoa. Vì vậy, ngày nay, các sản phẩm từ tổ ong không chỉ được dùng trong y học cổ truyền của một số nước mà còn được sử dụng ngày càng nhiều trong y học hiện đại.

Mật ong

Y học ngày nay đã thừa nhận mật ong có tính kháng khuẩn và chống nấm, nhưng không có tác dụng chống u, bướu. Dù nguồn gốc thế nào, các loại mật ong khác nhau đều có những đặc tính chung là cung cấp năng lượng, phục hồi sức khoẻ và chống stress. Ngoài ra, mỗi loại mật ong còn có tính chọn lựa đối với từng cơ quan để đạt được tác dụng chữa bệnh tốt hơn.

Gần đây, các nhà nuôi ong và y học phương Tây có nhận xét rằng mật ong từ hoa Cỏ xạ hương có tác dụng kháng sinh mạnh. Tác dụng đó chủ yếu là đối với đường tiêu hoá, còn mật ong từ cây Oải hương lại được đặc biệt chỉ định trong các bệnh đường hô hấp và ngoài da. Rồi người ta biết thêm rằng mật ong từ hoa cây Xương rồng, cây Thầu dầu và cây Đại kích được khuyên dùng trong bệnh thấp khớp của bệnh nhân nhậy cảm đối với lạnh, mật ong từ cây Quyết minh rất có ích cho người mắc bệnh đường tiết niệu (thận và bàng quang).

Theo các nghiên cứu gần đây ở nước ngoài, mật ong từ hoa cây Tràm, Bạch đàn có tác dụng tốt cho đường hô hấp và thầy thuốc khuyên dùng nó trong các bệnh cảm cúm, viêm phế quản, ho, viêm xoang, hen phế quản. Mật ong từ hoa Cam, Quýt có tác dụng tốt đối với hệ thần kinh, được xem là một loại thuốc an thần tuyệt hảo. Mật ong từ hoa Hướng dương có tác dụng hấp thu Cholesterol dư thừa trong máu và là vị thuốc quý cho bệnh nhân xơ vữa động mạch và huyết áp cao.

Một nhà nuôi ong giàu kinh nghiệm ở Đà Nẵng đã sử dụng Mật ong để chữa bệnh sỏi thận và sỏi bàng quang có hiệu quả: bệnh nhân được cho uống 10g mật ong hoà vào dịch một quả chanh tươi với một ít nước đun sôi để nguội. Ngày uống hai lần như vậy vào buổi sáng và tối. Ông cũng đã chữa khỏi chứng rối loạn tiền đình cho bệnh nhân và bản thân mình với liều 1 thìa canh mật ong, 3 lần trong ngày và khối lượng mật ong sử dụng là 2 lít.

Keo ong

Các nhà khoa học Nga đã phát hiện tác dụng quý của keo ong là kìm hãm sự tăng nhanh của tế bào ung thư, khối u. Họ sử dụng keo ong dưới dạng dung dịch nước và rượu 40% và 96% để nghiên cứu trên các vi trường nuôi cấy tế bào Phoblastoid (tế bào khối u lâm ba Burkitt) và nhận thấy dung dịch rượu 40% của keo ong có tác động kìm hãm sự tăng sinh của các tế bào ung thư rõ nhất và làm ngừng sự tăng sinh của các tế bào ung thư này ở các nồng độ 50mkg/ ml và cao hơn, gần với các nồng độ có hoạt tính của các thuốc chống ung thư Cyclophosphan và 5 - Eulaoricacyl. Để tiến hành các thí nghiệm trên động vật và trên lâm sàng, năm 1976 và năm 1989, các thầy thuốc Liên Xô (cũ) dùng dung dịch chiết xuất từ keo ong và đã thu được những kết quả dương tính trong việc kìm hãm tăng sinh tế bào khối u. Các tác giả cũng đã khuyến cáo việc dự phòng và điều trị u hạch quanh niệu đạo và ung thư tuyến tiền liệt bằng cách sử dụng có hệ thống và kéo dài rượu keo ong 40% hay bơ chứa 10-15% keo ong với liều một thìa cà phê trước khi đi ngủ đã cho được kết quả tốt. Tác dụng điều trị này được tăng lên khi kết hợp với uống nước sắc các cây thuốc có tác dụng chống ung thư như rễ cây Mẫu đơn, cây Bạch chỉ, rễ cây Đại hồi hương, quả cây Đỗ tùng, rễ hoành cây Bạch chỉ, cỏ Xạ hương bò, hoa cây Cam cúc thường ...

Năm 1995, trong bài viết “Sức khoẻ của con người và các sản phẩm của tổ ong”, Tiến sĩ Nga Hakim đã cho rằng các “gốc tự do” là những chất thải của quá trình trao đổi chất và sự tấn công ADN tế bào bởi các gốc tự do có thể là nguồn gốc của các bệnh ung thư, những rối loạn chuyển hoá và sự phát triển sơ cứng động mạnh và sự già cỗi của tổ chức. Keo ong và các sản phẩm của tổ ong (sữa ong chúa, thức ăn khô của ong, phấn hoa, mật ong) là những chất có tính chất quan trọng bảo vệ tế bào bởi tác dụng chống oxy hoá và chống các gốc tự do.

Keo ong cũng có tác dụng chữa bệnh viêm loét dạ dày có hiệu quả. Các giáo sư Nga V.M. Frolov và N.A. Peressadine đã điều trị một bệnh nhân bị loét dạ dày nặng bằng keo ong và thu được kết quả điều trị sau 40 ngày bằng cách cho uống rượu keo ong 20% hay 30% với liều 40-60 giọt hoà vào dung dịch 0,5% Novocain (giảm đau) hay 1/4 ly sữa. Sau 3-4 ngày điều trị, kết quả xét nghiệm tổ chức dạ dày cho thấy các xói mòn và ổ loét dạ dày đã được lớp biểu bì phủ lên. Sau 40-50 ngày, các cơn đau, nôn mửa mất đi, sức khoẻ được hồi phục và giấc ngủ trở lại bình thường.

Trong trường hợp nhiễm xạ do vụ nổ hạt nhân ở Tchernobyl, sự tăng sinh tế bào tuyến giáp của bệnh nhân nhiễm xạ tăng lên gấp 45 lần so với bình thường. Theo các thầy thuốc Nga, việc điều trị bằng rượu keo ong 10% và 30% rất có hiệu quả.

Sữa ong chúa

Các nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ) cho rằng sữa ong chúa có tính chất điều biến miễn dịch nên góp phần làm tăng khả năng tự vệ tự nhiên của cơ thể, có ảnh hưởng dương tính đến trạng thái thần kinh và hệ tim mạch, kích thích sự thành sẹo của các xói mòn và ổ loét dạ dày.

Các giáo sư Nga cũng dùng sữa ong chúa để chữa cho các bệnh nhân bị nhiễm xạ nguyên tử ở mức độ nhẹ với liều 100mg mỗi ngày, đặt dưới lưỡi chia làm 2-3 lần trong ngày và kéo dài một thời gian. Các thầy thuốc lưu ý rằng sữa ong khi uống dễ bị phá huỷ bởi axit clohydric và men tiêu hoá, vì vậy lên dùng dạng viên dẹt đặt dưới lưỡi. Nếu uống sữa ong chúa thì trước đó 10-15 phút phải uống nửa ly nước khoáng kiềm hay dung dịch 2% xút hoà tan uống được. Với cách này, người ta có thể chữa khỏi bệnh loét dạ dày có  kết hợp với keo ong trong 2-3 tuần.

Tuy sữa ong chúa không có tính kìm hãm các tế bào ung thư tăng sinh, nhưng có khả năng kéo dài tuổi thọ của động vật và người bị ung thư. Theo các nhà nghiên cứu, điều đó chắc chắn là nhờ tác động của axit decenic có trong sữa ong chúa kích thích vào hoc mon của vỏ thượng thận. Như vậy có thể dùng viên sữa ong chúa như một liệu pháp điều trị bổ sung trong tiền ung thư và các bệnh khối u, đặt dưới lưỡi 3 lần trong ngày.

Đặc biệt sữa ong chúa có khả năng phục hồi năng lực sinh dục của nam giới ở bệnh nhân liệt dương. Nhiều bệnh nhân bị nhiễm phóng xạ trong tai nạn Tchernobyl thường bị suy giảm sinh dục. Nhiều trường hợp sau khi được dùng sữa ong chúa, mật ong, keo ong, năng lực sinh dục của họ được phục hồi trở lại bình thường. Nên sử dụng sữa ong chúa buổi sáng lúc chưa ăn gì và buổi tối trước khi đi ngủ.

Phấn hoa:

Theo tiến sĩ Nga H. Hakim, phấn hoa chứa một thành phần các axit amin tương tự như bêta - endorphin là một nội kích tố thần kinh do tuyến yên của não bài tiết mà chất này gồm có 31 axit amin. Có thể do đó mà phấn hoa cung cấp các axit amin cần thiết cho sự tổng hợp bêta - endorphin của não và hocmôn này có tác dụng an thần và vai trò điều hoà hoạt động thần kinh.

Thật kỳ diệu đối với người mắc bệnh Parkinsơn (chứng liệt rung): ở một bệnh nhân, một đợt điều trị 15 ngày với liều 24 gam phấn hoa (bằng 3 thìa cà phê) chia 2 lần uống vào sáng sớm và buổi tối, chứng rung tay và lắc đầu sẽ giảm đi trông thấy. Sau một tháng uống phấn hoa, chứng đầu ngón tay bị dật không còn nữa. Thời gian điều trị có thể kéo dài 6 tháng, tốt hơn nữa là hàng tuần có kết hợp với việc dùng sữa ong chúa một lần với liều 10mg (nhỏ hơn hạt bắp).

Phấn hoa cũng có tác dụng dự phòng và điều trị chứng tăng sinh tuyến tiền liệt và khối u tuyến tiền liệt. Nam giới 40-45 tuổi trở lên, mỗi ngày nên uống 15g phấn hoa để phòng bệnh.

Phấn hoa còn có khả năng điều trị bệnh tiểu đường: một nữ bệnh nhân mỗi ngày bài tiết 60g đường và mỗi lít nước tiểu chứa 48g đường, được cho uống mỗi ngày 32g phấn hoa (bằng 4 thìa cà phê) mà không dùng insulin. Sau 15 ngày điều trị bệnh nhân chỉ bài tiết 9,4g đường mỗi ngày, đường trong nước tiểu chỉ còn 6,2g/lít. Bệnh nhân tiếp tục sử dụng phấn hoa và sau một thời gian hàm lượng đường trong nước tiểu chỉ còn 1g/lít và sức khoẻ được hồi phục.

Phấn hoa cũng được các thầy thuốc dùng để điều trị liệt dương với liều uống hàng ngày 32g (bằng 4 thìa cà phê), chia 2 lần vào sáng sớm và buổi tối. Hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn nếu kết hợp với sữa ong chúa, mỗi lần 5mg (bằng hạt ngô).

Nọc ong:

Nhiều thầy thuốc Liên Xô (cũ) đã sử dụng nọc ong có hiệu quả trong điều trị bệnh nhân bị viêm khớp bằng cách cho ong đốt trực tiếp. ở nước ta, nhà nuôi ong Tôn Thất Đảng ở Đà Nẵng đã chữa khỏi bệnh nhân Basedow (ưu năng tuyến giáp) bằng cách cho ong đốt ngay vào bướu: trong 5 ngày đầu, cho ong đốt tăng dần từ 1-5 con, từ đó mỗi tuần cho ong đốt 2 lần, mỗi lần 5 con bướu teo dần cho đến bình thường. Ông cũng cho biết đã chữa cho một nữ bệnh nhân trẻ mắc bệnh tâm thần theo cách chữa trên và sau một thời gian thì khỏi bệnh mà không thấy bệnh tái phát.

Nói tóm lại, các sản phẩm từ tổ ong là những sản phẩm có tính chất bảo vệ tế bào chống các gốc tự do gây oxy hoá, chống các quá trình lão hoá khi sử dụng lâu dài nhất là sữa ong chúa và keo ong, đã góp phần khôi phục lại bộ máy di truyền của tế bào, làm giảm số lượng sai hình nhiễm sắc thể và góp phần sửa chữa các sai hình đó của tế bào bao gồm các tế bào của hệ miễn dịch, vì vậy mà có tác dụng chữa được nhiều bệnh.

Liên hệ mua hàng

Điện thoại: 0394969435

Fax: 0394969435

Thống kê truy cập

239489
Hôm nayHôm nay35
Hôm quaHôm qua45
TuầnTuần285
ThángTháng1153
TổngTổng239489
DEBUG
Time:[0.037361860275269sec]

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries